//
JA Teline III - шаблон joomla Книги

Tuesday, Oct 17th

Last updateMon, 09 Oct 2017 9am

You are here: Home LỊCH SỬ VÀ TƯ LIỆU LỊCH SỬ SƯ ĐOÀN 9 Phần mở đầu

Phần mở đầu

VÙNG ĐẤT LỊCH SỬ VÀ NHỮNG ĐƠN VỊ CHỦ LỰC ĐẦU TIÊN - TIỀN THÂN CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 9 RA ĐỜI, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA MỸ 

I. MIỀN ĐÔNG NAM BỘ, NƠI RA ĐỜI, XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 9

Miền Đông Nam Bộ, gọi tắt là miền Đông, trải qua các thời kỳ, giai đoạn lịch sử là vùng đất giàu bản sắc văn hóa và đấu tranh cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), miền Đông Nam Bộ thuộc tổ chức quân sự Quân khu 7 và Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, sau là Phân liên khu miền Đông. Trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), miền Đông Nam Bộ được chia thành hai quân khu: Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, và hiện nay miền Đông Nam Bộ tương ứng với phạm vi tổ chức quân sự Quân khu 7, gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Lâm Đồng và Bình Thuận.

Địa lý miền Đông Nam Bộ: phía bắc và tây giáp với Campuchia; phía nam và tây nam giáp với đồng bằng sông Cửu Long; phía đông bắc giáp với Tây Nguyên; phía đông và đông nam giáp với Nam Trung Bộ và biển Đông.

Sông ngòi khu vực Đông Nam Bộ có các sông lớn như hệ thống sông Đồng Nai; sông Sài Gòn; sông Thị Vải… sông Sài Gòn và sông Thị Vải là nơi tập trung các cảng chính của khu vực như cảng Sài Gòn, cảng Cái Mép, cảng Thị Vải.

Địa hình miền Đông Nam Bộ tương đối bằng phẳng, có độ cao trung bình từ 20 đến 200 mét so với mặt nước biển. Đất có 7 loại: gồm đất feralit, đất phù sa (chiếm thấp nhất trong vùng), đất ba zan, đất xám trên phù sa cổ, đất mặn, đất phèn (đất mặn, đất phèn tập trung nhiều ở Thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất này thuộc địa chất giới kainozoi: cuội, cát, sét kết và các thành phần tạo bở rời.

Núi ở miền Đông Nam Bộ chỉ xuất hiện rải rác, đột xuất, có độ cao từ 500 đến 986 mét, ở một số tỉnh như núi Bà Đen, Bà Rá, Chứa Chan, Mây Tào, Thị Vải…

Rừng chiếm một phần ba diện tích đất tự nhiên, không kể vùng rừng tràm gió mạn đông bắc Đồng Tháp Mười, vùng đám lá tối trời nằm trên hữu ngạn sông Soài Rạp, hạ lưu sông Vàm Cỏ và các đồn điền cao su phân bố ở hầu khắp các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. Vào buổi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, rừng ở miền Đông Nam Bộ phần lớn còn nguyên sinh với thảm thực vật và động vật có đầy đủ đặc trưng của rừng nhiệt đới Châu Á. Đường biên giới chung của miền Đông Nam Bộ với Vương quốc Campuchia kéo dài từ Vĩnh Hưng (Long An) lên Phước Long (Bình Phước). Bờ biển dài 130 ki-lô-mét, có núi cao, bãi cát dài và nhiều cửa biển, trong đó có cửa biển chiến lược Cần Giờ nối Sài Gòn với biển Đông. Sát cửa biển lại là khu rừng ngập mặn rậm rạp, sông rạch chằng chịt, địa thế hiểm yếu. Rất nhiều sông ngòi chảy ra trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, trong đó có những con sông nổi tiếng như Đồng Nai, Sài Gòn, Sông Bé, Vàm Cỏ, Soài Rạp. Ngoài đường sắt và đường thuỷ, hệ thống giao thông có 7 quốc lộ, 10 liên tỉnh lộ và hàng trăm tỉnh lộ, hương lộ khác nối với Sài Gòn và khắp các miền đất. Miền Đông Nam Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, gồm 2 khu vực khí hậu tương đối khác biệt về phía tây bắc và đông nam.

Cư dân ở miền Đông Nam Bộ gồm nhiều thành phần dân tộc khác nhau: Kinh (80 phần trăm), Stiêng, Mạ, Chơro, Mơnông, Chăm, Hoa, Khơ Me... tuyệt đại đa số là người lao động, trong đó nông dân chiếm 85 phần trăm. Đồng bào theo nhiều tôn giáo khác nhau, đáng kể nhất là đạo Phật, đạo Ki-tô và đạo Cao Đài. Đông Nam Bộ là miền đất trẻ. Cư dân tụ về có nguồn gốc từ nhiều địa phương khác nhau trên cả nước. Đại bộ phận trong số họ là những nông dân yêu chuộng tự do, cần cù lao động. Nhu cầu tồn tại, làm chủ thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm để gắn bó họ thành một khối có tình thương yêu đùm bọc và đoàn kết nhất trí cao. Trên cơ sở lưu giữ phần cốt lõi của tính cách dân tộc, quá trình đấu tranh để tồn tại và phát triển trong điều kiện lịch sử mới đã góp phần định hình tính cách riêng nơi người dân miền Đông Nam Bộ. Đó là tình yêu quê hương đất nước tha thiết; là ý chí bất khuất, khẳng khái và năng động trước mọi cản trở của hoàn cảnh; là tinh thần chiến đấu táo bạo, kiên cường và trí tuệ mưu lược; là phẩm chất tự lực tự cường, cần cù lao động sáng tạo, tiết kiệm; là tinh thần đoàn kết gắn bó và lối ứng xử trung thực, chân thành.

Miền Đông Nam Bộ nối với nam Tây Nguyên, tạo nên thế liên hoàn vững chắc với cả nước; đồng thời với đặc điểm địa lý tự nhiên và dân cư làm cho miền Đông Nam Bộ có một vị trí chiến lược quan trọng trong thời kỳ chống đế quốc xâm lược và thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong thời kỳ kháng chiến, đối với địch, đây là địa bàn chiến lược có ý nghĩa sống còn của cuộc chiến tranh xâm lược, trong đó Sài Gòn là đại bản doanh của quân viễn chinh, là thủ đô, trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá của các chế độ ngụy quyền. Tại đây, địch bố trí phần lớn lực lượng quân sự và hệ thống căn cứ kho tàng, là nơi tập trung đánh phá ác liệt về cả quân sự, chính trị và là một địa bàn trọng điểm trong chính sách bình định, vơ vét sức người, sức của phục vụ cho cuộc chiến tranh của chúng.

Đối với ta, Lỡi! Nới kết khơng hợp thức. có ba vùng chiến lược hoàn chỉnh, gồm: vùng rừng núi (tỉnh Bình Phước); vùng nông thôn đồng bằng (Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu…); vùng thành thị (Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Vũng Tàu…). Nhân dân miền Đông Nam Bộ có truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm bất khuất vốn được thử thách và vun đắp từ nhiều thế kỷ trước; là địa bàn có khả năng thể hiện sự vận dụng đầy đủ đường lối quân sự, chính trị của Đảng ta về tiến hành một cuộc chiến tranh nhân dân, một cách trực tiếp, truyền thống đoàn kết chống kẻ thù giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia. Đây chính là những cơ sở rất quan trọng, cùng với nhân tố khác, bảo đảm cho nhân dân và các lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Đông Nam Bộ tổ chức duy trì cuộc chiến đấu lâu dài, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh và cuối cùng đã góp phần làm nên chiến thắng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ra đời trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, tiền thân là các Trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 được thành lập trong những năm đầu chiến tranh chống Mỹ đến khi trở thành một sư đoàn chủ lực mạnh, Sư đoàn bộ binh 9 đã trải qua một quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng vẻ vang và oanh liệt. Lịch sử xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Sư đoàn gắn liền với các bước phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với cuộc chiến đấu anh dũng, ngoan cường của quân và dân cả nước, đặc biệt là quân và dân các tỉnh Nam Bộ và miền Đông Nam Bộ. Những đặc điểm về vùng đất, con người miền Đông Nam Bộ, về những yêu cầu phát triển của cuộc chiến tranh giải phóng và chiến trường đã tác động trực tiếp đến sự ra đời phát triển của Sư đoàn. Mục tiêu chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc luôn luôn là nguồn động lực, tạo nên sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn. Khí phách quật cường của miền Đông “gian lao mà anh dũng”, sự nuôi dưỡng và phối hợp xây dựng sức người, sức của của nhân dân Nam Bộ cùng với nguồn tiếp sức người, sức của của hậu phương lớn miền Bắc đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần làm cho Sư đoàn càng đánh, càng mạnh, làm nên truyền thống vẻ vang “Đoàn kết, khiêm tốn, anh dũng, sáng tạo, đi là chiến thắng, đánh là dứt điểm”.

II. NHỮNG TRUNG ĐOÀN CHỦ LỰC ĐẦU TIÊN TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ, TIỀN THÂN CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 9

1. Bối cảnh lịch sử

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ là chiến trường có phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh. Lực lượng vũ trang được xây dựng từng bước, hình thành ba thứ quân: dân quân du kích ở các xã, ấp; bộ đội địa phương tỉnh, huyện; bộ đội chủ lực tỉnh, các khu và liên khu. Có thời gian, bộ đội chủ lực đã được tập trung thành các trung đoàn, liên trung đoàn. Đông Xuân 1953-1954, phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ và các chiến trường toàn quốc, Tiểu đoàn chủ lực khu (302, 304, 307) và tỉnh (300, 303, 306, 308, 309, 310, 311, 312, 410) đã đẩy mạnh tiến công quân sự, kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.

Năm 1954, sau khi chiến tranh kết thúc, thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ, các đơn vị vũ trang tập trung ở phía nam vĩ tuyến 17 tập kết ra miền Bắc. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm được Mỹ nuôi dưỡng thành lập chính phủ bù nhìn, tay sai, cấu kết phá hoại Hiệp định, phá hoại hiệp thương Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cách mạng miền Nam chuyển sang thời kỳ mới, thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Do sớm nhận rõ âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ và dự kiến cuộc đấu tranh cách mạng nhằm hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở miền Nam sẽ lâu dài, khó khăn, diễn biến phức tạp, Trung ương Đảng đã quyết định để lại mỗi tỉnh miền Nam một số cán bộ quân sự, chôn giấu một số vũ khí tốt để làm nòng cốt, khi cần tổ chức lại lực lượng vũ trang. Tại hội nghị lần thứ nhất (tháng 10-1954), Xứ ủy Nam Bộ chỉ thị cho các liên tỉnh ủy và tỉnh ủy phải duy trì các căn cứ kháng chiến trong những năm chống Pháp xâm lược, như căn cứ rừng U Minh (miền Tây Nam Bộ), Đồng Tháp Mười (miền Trung Nam Bộ), Chiến khu Đ và Chiến khu Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ)...

Trong những năm 1954-1959, cách mạng miền Nam ở thế giữ gìn lực lượng, cuộc đấu tranh đòi thi hành Hiệp Định Giơ-ne-vơ, hiệp thương tổng tuyển cử, chống hành động “tố Cộng, diệt Cộng” tàn ác của Mỹ - Diệm diễn ra gay go quyết liệt. Cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ quân sự ở lại miền Nam đã bám sát quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang, làm nòng cốt và lãnh đạo quần chúng đấu tranh với địch. Nhiều đội vũ trang tuyên truyền, tổ hành động diệt ác ôn, đội hoặc nhóm vũ trang tự vệ đã ra đời từ trong phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Vào năm 1959, ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã có 139 đội vũ trang tự vệ, mỗi đội có trên dưới 50 người và một số súng, do liên tỉnh uỷ hoặc do tỉnh uỷ lãnh đạo, chỉ huy. Đáng chú ý là ở các căn cứ miền Đông Nam Bộ đã thành lập được các đại đội và ở nhiều tỉnh đã thành lập được đơn vị vũ trang tập trung, lấy phiên hiệu là tiểu đoàn để phô trương thanh thế. Trong năm 1959, đã có những trận đánh diệt cả tiểu đoàn ngụy ở gò Quản Cung, giồng Thị Đam (Kiến Tường), một số trận diệt chi khu ở Khu 9...

Từ giữa năm 1959, trước hành động khủng bố ngày càng phát xít của bè lũ Mỹ - Diệm và sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (cuối năm 1959 Nghị quyết 15 mới được chuyển vào Nam Bộ), với tư tưởng cực kỳ quan trọng được đề ra trong Nghị quyết này là “Nhân dân miền Nam phải dùng con đường cách mạng bạo lực để tự giải phóng mình, ngoài ra không còn con đường nào khác”, nhân dân miền Nam đã vùng lên “Đồng khởi”, phá bỏ bộ máy kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ ở xã, ấp. Phong trào mạnh nhất là ở nông thôn đồng bằng Nam Bộ và miền núi Trung Bộ. Từ lực lượng chính trị của quần chúng, từ trong phong trào “Đồng khởi”, các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã phát triển rất nhanh chóng, 560 xã có tiểu đội, 190 xã có trung đội du kích. Các tỉnh, huyện đều thành lập được đại đội, trung đội bộ đội địa phương. Mỗi liên tỉnh có một tiểu đoàn bộ đội chủ lực.

2. Các trung đoàn chủ lực đầu tiên ra đời

Căn cứ vào bước phát triển mới của lực lượng và phong trào cách mạng miền Nam, tháng 1 năm 1961, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định chuyển phương châm đấu tranh “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đưa đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai lực lượng chính trị và quân sự. Nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang miền Nam là nhanh chóng phát triển lực lượng đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch, kết hợp với đấu tranh chính trị của quần chúng”.

Cũng trong tháng 1 năm 1961, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương ra chỉ thị về việc lực lượng vũ trang xây dựng và chiến đấu ở miền Nam sẽ mang tên “Quân giải phóng miền Nam Việt Nam”. Phương châm xây dựng của lực lượng vũ trang ở miền Nam là khẩn trương, lấy việc xây dựng các đơn vị tập trung làm chủ yếu, đồng thời hết sức coi trọng xây dựng bộ đội địa phương và dân quân du kích. Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Hội nghị quân sự ở Chiến khu Đ, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

Tháng 9 năm 1961, đề án xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Nam trong ba năm (1961-1963) do Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị được Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương thông qua.

Sư đoàn 338 (thành lập tháng 12 năm 1956) gồm các đơn vị bộ đội Nam Bộ tập kết ra Bắc được tổ chức thành đơn vị huấn luyện quân tăng cường cho chiến trường.

Tháng 5 năm 1961, đoàn cán bộ quân sự mang tên “Phương Đông 1” gồm 500 người xuất phát từ Xuân Mai (Hoà Bình) hành quân vào chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Sau ba tháng đi bộ vượt Trường Sơn, ngày 28 tháng 7 năm 1961, đoàn đến vị trí tập kết ở vùng căn cứ Chiến khu Đ thuộc quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là tỉnh Đồng Nai). Các cán bộ của đoàn được tăng cường cho Ban Quân sự Miền. Một số được điều về các Quân khu 7, 8, 9 và Sài Gòn - Gia Định, chuẩn bị cho việc thành lập các Bộ Tư lệnh Quân khu và các trung đoàn chủ lực.

Những tháng cuối năm 1960 đầu năm 1961, phong trào đồng khởi của quần chúng, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang ngày càng lên cao. Chính sách xâm lược và thống trị thực dân mới của Mỹ bị thất bại một bước nghiêm trọng. Nhà cầm quyền Mỹ thực hiện chuyển hướng chiến lược từ “chiến tranh đơn phương” còn gọi là chiến lược “chiến tranh một phía” sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đưa ồ ạt cố vấn và tiền của, vũ khí vào miền Nam, giúp ngụy quân, ngụy quyền chống lại phong trào cách mạng. Được Mỹ tăng cường viện trợ và chỉ huy trực tiếp, ngụy quyền Sài Gòn ra sức đôn quân, bắt lính tăng quân chính quy lên 20 vạn tên, lực lượng bảo an lên 8 vạn tên và dân vệ lên 7 vạn tên. Chúng đóng thêm hàng ngàn đồn bót, mở hàng trăm cuộc hành quân càn quét quy mô từ tiểu đoàn đến sư đoàn, nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, đồng thời ra sức cướp bóc, đốt phá, bắn giết, gom dân lập ấp chiến lược, thực hiện âm mưu “tát nước và bắt cá”, tách lực lượng cách mạng và vũ trang cách mạng ra khỏi nhân dân để tiêu diệt.

Để phá được âm mưu thâm độc của Mỹ - ngụy, vấn đề xây dựng bộ đội chủ lực và đẩy mạnh tác chiến tập trung, đánh bại các cuộc hành quân càn quét của quân chủ lực ngụy, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá “ấp chiến lược”, trở thành một yêu cầu khách quan và cấp thiết của chiến trường.             

Ngày 22 tháng 12 năm 1960, tại Xuân Mai - Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội), Trung đoàn bộ binh 1, được quyết định thành lập (nhưng không công bố), khi thành lập trung đoàn chỉ có cán bộ khung từ trung đoàn trưởng đến tiểu đội trưởng. Đầu năm 1961, trong đội hình “Đoàn Phương Đông I” toàn bộ khung của trung đoàn được lệnh bí mật hành quân vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Ngày 27 tháng 3 năm 1961, sau hai tháng 27 ngày đi bộ, vượt hơn một nghìn cây số đường Trường Sơn, với bao khó khăn gian khổ, đoàn cán bộ khung của trung đoàn đã vào đến Chiến khu Đ thuộc miền Đông Nam Bộ. Sau bảy ngày nghỉ và làm lán trại, trung đoàn bước vào học tập chính trị, ôn luyện quân sự, tiếp nhận và huấn luyện tân binh.

Tháng 8 năm 1961, trên cơ sở lực lượng vũ trang đã phát triển mạnh trong phong trào Đồng Khởi và khung cán bộ từ miền Bắc mới hành quân vào đến chiến trường, Trung ương Cục và Ban Quân sự Miền quyết định thành lập hai tiểu đoàn chủ lực đầu tiên, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ban Quân sự Miền. Tiểu đoàn 1, do đồng chí Bùi Thanh Vân (Út Liêm) làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Đặng Văn Thượng làm Chính trị viên. Tiểu đoàn 2, do đồng chí Huỳnh Leo (Bình Minh) làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Bảy Trợt (Hải) làm Chính trị viên. Mỗi tiểu đoàn trang bị khoảng 100 khẩu súng, phần lớn là súng bộ binh do các nước tư bản chế tạo.

Tháng 9 năm 1961, Tiểu đoàn 2 ra quân trận đầu tiên, tiến công đồn dân vệ cầu Cần Lê (Bình Long)â, diệt và bắt 50 tên, thu 15 khẩu súng. Tháng 10 năm 1961, Tiểu đoàn 1 diệt đồn Bổ Túc (Tây Ninh). Đây là đồn địch nằm sâu trong Chiến khu Dương Minh Châu. Khu vực căn cứ được mở rộng. Bộ đội ta lấy hai đồn địch làm thao trường huấn luyện các hình thức chiến thuật, tập kích quân địch trong công sự. Các trận đánh tiếp theo ở Bến Cầu, Suối Đá (Tây Ninh)... trong những tháng cuối năm 1961 cũng đều giành được thắng lợi. Truyền thống chiến thắng trận đầu, đánh dứt điểm, đã ra quân là chiến thắng của bộ đội chủ lực Miền được hình thành ngay từ những trận đánh này. Nó củng cố niềm tin trong lãnh đạo, trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Những tháng cuối năm 1961, đầu năm 1962, trên 1.500 thanh niên các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Sài Gòn xung phong gia nhập Quân giải phóng. Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long gửi lên căn cứ miền Đông 700 tân binh. Số cán bộ và nhân viên kỹ thuật từ miền Bắc hành quân vào ngày càng nhiều. Nhu cầu của chiến trường và các yếu tố cần thiết cho việc thành lập một trung đoàn chủ lực đã có đầy đủ.

Ngày 9 tháng 2 năm 1962, tại Trảng Dài (Tây Ninh), Trung ương Cục và Ban Quân sự Miền tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Trung đoàn bộ binh 1 (mật danh là Q.761, còn gọi là C65), đây là trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, trên chiến trường B2 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong đội hình của trung đoàn có hai Tiểu đoàn bộ binh 1 và 2, một số phân đội trợ chiến, bảo đảm và các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần. Đồng chí Tăng Thiên Kim (Hoàng Đình Chương) được cử làm Trung đoàn trưởng. Đồng chí Lê Văn Nhỏ (Hai Lâm) được cử làm Chính uỷ. Đồng chí Lê Thanh (Tám Lê Thanh) làm Trung đoàn phó; đồng chí Quốc Vũ làm Tham mưu trưởng. Đến tháng 6 năm 1963, Tiểu đoàn bộ binh 3 của trung đoàn cũng được thành lập, gồm cán bộ từ miền Bắc vào, từ “An toàn khu” ra và chiến sĩ mới từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Đồng chí Sáu Huấn làm Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Kỳ Nam là Chính trị viên. Biên chế tiểu đoàn khi thành lập có 2 đại đội. Như vậy, đến tháng 6 năm 1962, tổ chức của Trung đoàn bộ binh 1 được kiện toàn.

Trong khi đó, đúng vào dịp kỷ niệm 17 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1961), tại Xuân Mai, Hà Đông (nay là thành phố Hà Nội), Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn bộ binh 2 gồm những cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên thuộc Sư đoàn 330, 338 và bộ đội Nam Bộ tập kết tình nguyện trở về miền Nam chiến đấu. Ban chỉ huy trung đoàn khi thành lập gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Cộng (Mười Cộng) Trung đoàn trưởng; Nguyễn Đăng Mai (Bảy Mai) Chính uỷ; Tạ Minh Khâm (Sáu Khâm) Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng; Nguyễn Văn Đức (Hai Đức) Chủ nhiệm chính trị. Trung đoàn được công bố quyết định thành lập buổi sáng 22 tháng 12, thì 3 giờ sáng ngày 23 tháng 12, Trung đoàn được lệnh hành quân ngay vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đây là Trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập trên miền Bắc, với trang bị, biên chế đầy đủ (trừ Tiểu đoàn bộ binh 6, chỉ có cán bộ khung) hành quân vào chiến trường trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Chấp hành mệnh lệnh của trên, đúng 3 giờ sáng ngày 23 tháng 12 năm 1961, đoàn thứ nhất của Trung đoàn 2 gồm Trung đoàn bộ và cán bộ khung Tiểu đoàn 6 cùng các phân đội trực thuộc với mật danh “Đoàn 19 -C200” trong đội hình “Đoàn Phương Đông II” được lệnh lên đường. Sau gần ba tháng hành quân bộ vượt Trường Sơn, ngày 18 tháng 3 năm 1962, đoàn vào đến Mã Đà, Chiến khu Đ. Tiếp theo đoàn thứ nhất, đoàn thứ hai của trung đoàn gồm Tiểu đoàn bộ binh 4 và bộ phận quân y trung đoàn với mật danh “Đoàn 14” và sau cùng là đoàn thứ ba gồm Tiểu đoàn bộ binh 5 với mật danh là “Đoàn 15” tiếp tục vượt Trường Sơn vào đến Mã Đà, Chiến khu Đ miền Đông Nam Bộ. Sau gần ba tháng hành quân, tháng 6 năm 1962, hai Tiểu đoàn bộ binh 4, 5 và các đơn vị binh chủng hành quân vào đến Mã Đà. Trung đoàn bộ binh 2 có đủ 3 tiểu đoàn bộ binh, các đơn vị binh chủng và cơ quan theo biên chế. Để giữ bí mật, ba Tiểu đoàn 4, 5, 6 mang mật danh J104, J106 và J108; Trung đoàn mang mật danh Q762, có lúc đổi là C900, C58... Đây là trung đoàn chủ lực cơ động thứ hai trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, trực thuộc Ban Quân sự Miền. Khác với Trung đoàn 1 được tổ chức trên cơ sở “khung” cán bộ từ miền Bắc đưa vào và chiến sĩ tuyển tại chỗ, Trung đoàn 2 được thành lập hoàn chỉnh trên miền Bắc, là đơn vị thực binh, hành quân vào chiến truờng với đầy đủ số quân và trang bị theo biên chế.  

Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 là hai trung đoàn bộ binh chủ lực đầu tiên của quân đội ta ở chiến trường miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong khoảng thời gian một năm, quân và dân ta đã tổ chức được hai trung đoàn chủ lực ở một chiến trường xa hậu phương, nhưng có vị trí chiến lược quan trọng, nằm ngay ở cửa ngõ Sài Gòn. Kết quả đó nói lên quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước rất cao của Đảng ta, nhân dân và Quân đội ta; khẳng định vai trò to lớn của hậu phương miền Bắc ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ; đồng thời thể hiện đường lối độc lập, tự chủ của Đảng ta.

Ban Quân sự Miền bố trí địa bàn hoạt động của Trung đoàn 1 ở tây sông Sài Gòn, chủ yếu là tỉnh Tây Ninh (Khu B); Trung đoàn 2 ở phía đông trên địa bàn các tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Thành (nay thuộc hai tỉnh Bình Dương, Bình Phước). Nhiệm vụ chủ yếu là tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, cùng bộ đội địa phương chống địch càn quét, giữ vững địa bàn, hỗ trợ nhân dân phá “ấp chiến lược”.

Ngày 22 tháng 12 năm 1964, trong lúc chiến dịch Bình Giã đang sôi động, trung đoàn bộ binh thứ ba làm lễ ra mắt với phiên hiệu Trung đoàn 3 chủ lực Miền. Khác với Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 được hình thành trên đất miền Đông và miền Bắc hậu phương lớn, Trung đoàn 3 lại được sinh ra trên vùng sông nước Nam Bộ. Trung đoàn được hình thành từ hợp nhất của hai Tiểu đoàn T70 và T80 thuộc Trung đoàn 2, Quân khu 9 và Tiểu đoàn Đồng Tháp 63 (d263) của Quân khu 8. Cán bộ, chiến sĩ đều trưởng thành từ phong trào Đồng Khởi miền Trung và miền Tây Nam Bộ. Ngày 1 tháng 5 năm 1964, từ giã quê hương, đồng bào, đồng đội thân thương, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn hành quân lên miền Đông tham gia vào chủ lực Miền. Ban Chỉ huy Trung đoàn gồm các đồng chí: Võ Minh Như (chín Hiền) Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy, Võ Văn Dần, Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng. Đầu năm 1965, đồng chí Lê Thanh được trên điều về làm Chính ủy. Các tiểu đoàn trực thuộc Trung đoàn 3 gồm Tiểu đoàn 7, 8, 9, là các đơn vị đã có kinh nghiệm tác chiến ở đồng bằng sông nước. Trong năm 1963 đầu năm 1964, các tiểu đoàn đã tham gia giải phóng hàng loạt đồn bót địch, giải phóng chi khu Cái Nước, Vĩnh Thuận… Khi nhận nhiệm vụ hành quân lên miền Đông Nam Bộ, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn có quyết tâm và niềm tin rất cao. Đầu tháng 6 năm 1964, trung đoàn tổ chức trận tập kích 2 cụm quân ngụy ở Gò Dầu, Trảng Bàng (Tây Ninh), diệt gọn 1 đại đội địch, bắt nhiều tên, thu nhiều vũ khí, đây là trận đánh thử nghiệm đầu tiên của trung đoàn khi lên miền Đông Nam Bộ. Tiếp theo là trận đánh ở Bù Đốp, Phước Long ngày 20 tháng 7 năm 1964 diệt 230 tên địch, bắt 96 tên, thu 118 súng các loại. Trung đoàn được tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba mở đầu cho những chiến công nối tiếp chiến công trong đội hình Sư đoàn 9 sau này.

Cùng với bộ binh, các đơn vị hoả lực của Miền cũng được tập trung thành một đơn vị cấp trung đoàn (mật danh là U80), gồm 4 tiểu đoàn pháo, cối (Z35, Z37, Z39, Z41) và 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7mm.

Như vậy đến cuối năm 1964, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đã có 3 Trung đoàn bộ binh 1, 2, 3 và Đoàn pháo binh U80 với cơ cấu tổ chức và chỉ huy thống nhất. Đây là các đơn vị nòng cốt phát triển thành Sư đoàn 9 sau này.

III. CÁC TRUNG ĐOÀN CHỦ LỰC RA ĐỜI, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA  MỸ (1961-1964)

1. Vừa xây dựng, vừa chiến đấu cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh bại các cuộc càn quét của địch mở rộng và bảo vệ căn cứ

Các đơn vị chủ lực đầu tiên ra đời ở miền Đông Nam Bộ vào lúc phong trào “Đồng Khởi” của nhân dân vùng nông thôn đồng bằng Nam Bộ và miền núi Trung Bộ lên đến đỉnh cao. Để duy trì ách thống trị thực dân mới, đế quốc Mỹ không thể tiếp tục các hình thức và biện pháp kiểu cũ mà buộc phải dùng chiến tranh, thực hiện chiến lược mới “chiến tranh đặc biệt”. Bước đầu của chiến lược này là kế hoạch bình định miền Nam Việt Nam trong 18 tháng (năm 1962 và sáu tháng đầu năm 1963) do Stalây và Tay-lo đề xướng, được tổng thống Mỹ Ken-nơ-đi và hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thông qua vào tháng 11 năm 1961. Hai biện pháp chính trong kế hoạch mà Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn tập trung thực hiện nhằm mục tiêu “bình định” để gom dân vào từng khu vực gọi là “ấp chiến lược” để kiểm soát dân, tiêu diệt cán bộ, đảng viên, du kích nằm trong dân, ngăn cách lực lượng vũ trang với dân; và dùng quân ngụy hành quân càn quét, bằng máy bay lên thẳng (trực thăng vận) và xe bọc thép lội nước M113 (thiết xa vận) nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, hỗ trợ kế hoạch gom dân vào các “ấp chiến lược”. Được Mỹ tăng thêm viện trợ và chỉ huy trực tiếp là đội ngũ cố vấn (tới cấp tiểu đoàn và chi khu), ngụy quyền Diệm tăng nhanh lực lượng vũ trang. Chúng đóng thêm hàng nghìn đồn bót, chuẩn bị mở các cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng, dập tắt phong trào đấu tranh của quần chúng, khôi phục bộ máy thống trị đã bị mất hoặc bị lung lay ở xã, ấp.   

Từ kế hoạch vạch sẵn, tháng 3 năm 1962, ở miền Đông Nam Bộ, Mỹ - ngụy mở cuộc càn mang tên “Mặt trời mọc”, kéo dài gần 8 tháng (từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1962) với sự tham gia của 8.000 quân chính quy ngụy của ba sư đoàn 5, 7, 21; 50 máy bay lên thẳng, gần 100 xe bọc thép M113 và toàn bộ lực lượng bảo an dân vệ trên địa bàn. Phạm vi càn quét vào các tỉnh: Bình Dương, Phước Thành, Bình Long, Phước Tuy, Biên Hoà, Tây Ninh, nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng khi còn đang trứng nước, chia cắt Chiến khu Dương Minh Châu với Chiến khu Đ, dồn dân ở vùng căn cứ của ta về sống trong các “ấp chiến lược” nằm ven đường giao thông để dễ bề kiểm soát.

Đối phó với âm mưu thủ đoạn chiến tranh mới của địch, Tháng 5 năm 1962, Trung ương Cục đã ra Nghị quyết nêu rõ “Nhiệm vụ của tất cả các lực lượng vũ trang là phải ra sức tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch”. Nhưng trước đòi hỏi của nhiệm vụ trước mắt là hỗ trợ phong trào quần chúng phá “ấp chiến lược”. Chấp hành mệnh lệnh của trên, những tháng cuối năm 1962, Trung đoàn 1 hành quân xuống Bời Lời, Nhuận Đức, An Nhơn Tây. Trung đoàn 2 hành quân xuống Bến Cát, Phú Giáo, Dầu Tiếng.

Thời gian đầu, hai trung đoàn kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương hoạt động có kết quả tốt, hàng loạt các ấp chiến lược bị phá vỡ. Nhưng khi địch chuyển sang càn quét lớn, dài ngày và dùng bom pháo đánh phá ác liệt, hỗ trợ cho lực lượng bảo an, dân vệ đi gom dân lập ấp, xây dựng tháp canh, hào luỹ xung quanh ấp kiên cố hơn thì nhiều nơi phong trào bị chững lại. Bộ đội địa phương và du kích không đủ khả năng đối phó với quân chính quy có xe tăng, xe bọc thép lội nước và máy bay lên thẳng yểm trợ trong các cuộc hành quân càn quét. Vì vậy, hoạt động xây dựng và tác chiến của hai trung đoàn đều gặp nhiều khó khăn, trong đó khó khăn lớn nhất của bộ đội ta là thiếu đạn, thiếu vũ khí diệt xe tăng, cơ giới, máy bay lên thẳng. Mặt khác, do mức độ bom pháo dày đặc, các trung đoàn phải thường xuyên di chuyển để tránh phi pháo và đối phó với các cuộc hành quân càn quét của địch. Đường vận chuyển tiếp tế từ đồng bằng lên căn cứ, bị địch kiểm soát gắt gao, nên sinh hoạt của các đơn vị rất khó khăn thiếu thốn. Thậm chí có thời gian bộ đội phải ăn cháo hàng tuần. Khó khăn là vậy, nhưng cán bộ, chiến sĩ hai trung đoàn vẫn kiên quyết bám trụ, kết hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương, tích cực chủ động, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.

Ngày 3 tháng 9 năm 1962, trận tao ngộ giữa hai Tiểu đoàn 5 và 6 Trung đoàn 2 với một trung đoàn thuộc sư đoàn 5 ngụy ở Bàu Buông, địch bị diệt gần 50 tên. Nhờ được huấn luyện tốt về kỹ thuật bắn súng, các chiến sĩ ta bắn rất chính xác. Phần lớn những tên bị diệt là do trúng đạn vào đầu. Trận này làm cho quân ngụy rất khiếp sợ vì chúng cho rằng đã “đụng độ với quân chính quy miền Bắc”.

Bước sang đầu năm 1963, hai Trung đoàn 1 và 2 tiếp tục hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá “ấp chiến lược” và chống càn bảo vệ căn cứ. Ngày 24 tháng 3 năm 1963, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 vận động tiến công chặn đánh một cánh quân thuộc sư đoàn 5 ngụy, càn vào Trảng Tranh tại Lộc Ninh, diệt tại chỗ 100 tên, thu gần 100 khẩu súng. Ngày 29 tháng 3, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 tiến công đồn dân vệ Xóm Sóc (Tây Ninh) diệt 25 tên, thu một số súng, đồng thời kết hợp với đấu tranh chính trị của nhân dân phá đồn Cần Đăng, Trại Bí, giải phóng gần 2.000 dân, mở rộng căn cứ. Tiếp theo trong hai ngày 7 và 13 tháng 4, bằng cách đánh vận động tầp kích, Trung đoàn 1 do Trung đoàn trưởng Tăng Thiên Kim chỉ huy đã đánh lui mũi hành quân của một tiểu đoàn dù ở vùng Bời Lời, diệt và làm thương vong một số tên.

Tuy giành được nhiều thắng lợi, nhưng nhìn lại cả quá trình hoạt động của hai Trung đoàn 1 và 2 trong năm 1962, và đầu năm 1963, hiệu suất chiến đấu chưa đáp ứng được vai trò của bộ đội chủ lực. Từ tình hình trên, hai trung đoàn kịp thời tổng kết rút kinh nghiệm và thống nhất một nhận thức là: về phía địch, chúng đã tập trung lực lượng cỡ sư đoàn và nhiều sư đoàn quân chính quy trong một cuộc hành quân càn quét. Được Mỹ trang bị nhiều vũ khí, kỹ thuật mới và phát huy tối đa các biện pháp chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, chúng đã gây nhiều khó khăn cho ta, tạm thời giành lại thế chủ động. Về phía ta chưa thấy hết được âm mưu, thủ đoan hoạt động mới của địch, lúng túng trong biện pháp đối phó nhất là đối phó với xe bọc thép và máy bay lên thẳng vũ trang. Một vấn đề đặt ra cần tập trung lãnh đạo lúc này là: muốn phá được kế hoạch lập “ấp chiến lược” của địch, không thể chỉ dùng lực lượng tại chỗ phá ấp riêng lẻ, hoặc tổ chức những trận đánh không có quy mô lớn, chỉ mang tính chất ngăn cản cuộc hành quân, mà trước hết phải đánh bại quân chính quy ngụy trong các cuộc hành quân càn quét hỗ trợ bảo an dân vệ đi gom dân lập ấp. Muốn đánh bại quân chính quy ngụy, phải đánh bại hai biện pháp chiến thuật chủ yếu của chúng là “trực thăng vận”, “thiết xa vận”. Yêu cầu xây dựng đủ sức để đáp ứng được nhiệm vụ và phát huy vai trò của bộ đội chủ lực cơ động trong chiến đấu là một yêu cầu cấp thiết trong các trung đoàn hiện nay.

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, tháng 10 năm 1963, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền, nhằm tăng cường sức lãnh đạo, chỉ huy ở chiến trường. Trong dịp này nhiều đồng chí cán bộ cao cấp, trung câùp có kinh nghiệm được điều từ miền Bắc vào tăng cường cho việc xây dựng bộ đội chủ lực và chỉ huy đánh lớn.

Từ đây, hai Trung đoàn 1, 2 và Đoàn pháo binh 80 được củng cố về mặt tổ chức đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trực tiếp của Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền. Thời gian này hai trung đoàn có sự thay đổi về chỉ huy: ở Trung đoàn 1, đồng chí Nguyễn Thế Truyện (Năm Sài Gòn) làm Trung đoàn trưởng thay đồng chí Tăng Thiên Kim đi nhận công tác ở Quân khu 8, đồng chí Nguyễn Văn Tòng làm Chính uỷ thay đồng chí Lê Văn Nhỏ. Ở Trung đoàn 2, đồng chí Tạ Minh Khâm làm Trung đoàn trưởng thay đồng chí Nguyễn Văn Cộng, đồng chí Nguyễn Văn Quảng làm Chính ủy thay đồng chí Nguyễn Đăng Mai. Trung đoàn 1 lúc này đã được biên chế đủ 3 Tiểu đoàn bộ binh 1, 2, 3 và các đại đội trợ chiến (đại đội 16 súng cối 81 mm; đại đội 17 súng ĐKZ; đại đội 18 súng máy phòng không 12,7 mm).

Sau khi được củng cố kiện toàn về mặt tổ chức biên chế, nhiệm vụ của hai trung đoàn lúc này là củng cố huấn luyện, tập trung mọi cố gắng để tạo nên sức mạnh chiến đấu mới. Dưới sự chỉ đạo của Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền, Đảng ủy - Ban chỉ huy hai trung đoàn đã chỉ đạo các đơn vị sinh hoạt dân chủ, tự phê bình và phê bình, tìm nguyên nhân những trận đánh thắng và những trận đánh không dứt điểm. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh huấn luyện, nâng cao trình độ chiến thuật, kỹ thuật của bộ đội, đối tượng tác chiến là lính bảo an và quân chính quy ngụy. Phong trào “thi đua với Ấp Bắc, giết giặc lập công” rất sôi nổi trong các đơn vị.                     

Ngày 18 tháng 10 năm 1963, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 được tăng cường một đại đội đặc công của trung đoàn tiến công đồn Cây Trường trong “ấp chiến lược” thuộc xã Long Nguyên, huyện Bến Cát, tỉnh Thủ Dầu Một, nay là tỉnh Bình Dương. Đây là một đồn lớn nằm sâu trong vùng giải phóng của ta nên địch cho một đại đội bảo an đóng giữ và thiết lập hệ thống công sự, hỏa điểm, hầm ngầm, hàng rào kẽm gai để bảo vệ khá chắc chắn. Từ đồn Cây Trường, lính địch thường bung ra ngăn chặn ta hoạt động, hỗ trợ bọn dân vệ, ác ôn kìm kẹp dân trong “ấp chiến lược” và phối hợp với quân chính quy trong các cuộc càn quét. Được nhân dân địa phương tham gia hỗ trợ, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 đã anh dũng vượt qua các lớp rào, bờ tường tiến công tiêu diệt và làm chủ toàn bộ đồn Cây Trường. Trong trận này, nổi lên gương chiến đấu  của Tiểu đội trưởng đặc công Trừ Văn Thố lấy thân mình lấp lỗ châu mai dập tắt hoả điểm của địch, tạo điều kiện cho đồng đội xông lên tiêu diệt địch.

Khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ, nhân dân và bộ đội vô cùng khâm phục gương hy sinh của liệt sĩ Trừ Văn Thố. Anh đã được truy tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba. Ngày 5 tháng 5 năm 1965, Trừ Văn Thố đã được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.

Ngày 31 tháng 12 năm 1963, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân lớn mang tên “chiến dịch Đại phong 35” càn quét khu vực bắc Bến Cát. Tiểu đoàn biệt động quân 32 mang tên “cọp đen” do cố vấn Mỹ chỉ huy đang hành quân đến Bàu Đưng, cách ấp Đường Long 1 ki-lô-mét về phía tây bắc và đang tiến về khu vực đóng quân của Trung đoàn 2. Sau khi trao đổi, nhận định tình hình, phán đoán âm mưu và hành động của địch, đánh giá khả năng chiến đấu của trung đoàn trong Ban chỉ huy, Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm quyết định giao nhiệm vụ cho các đơn vị: Tiểu đoàn 5 đánh ngăn chặn địch ở chính diện; Tiểu đoàn 4 (thiếu đại đội 2) thực hiện vu hồi vận động men theo cánh rừng phía tây nam suối Xuy Nô, đánh vào sau lưng địch; Đại đội 21 vận động đánh vào sườn địch, phối hợp với hai Tiểu đoàn 4 và 5 tiêu diệt cánh quân địch thọc sâu vào địa bàn hoạt động của trung đoàn. Với tinh thần chiến đấu ngoan cường, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 2 đã tiến công tiêu diệt gọn tiểu đoàn biệt động quân 32 thuộc sư đoàn 5 ngụy, bắt 57 tên, thu 100 khẩu súngï. Trung đoàn 2 có 4 đồng chí hy sinh, 23 đồng chí bị thương. Nhiều chiến sĩ nêu gương chiến đấu dũng cảm, được đồng đội khâm phục. Chiến sĩ mới Lê Thanh Liêm quê ở Bến Tre, bị trúng đạn địch làm một tròng mắt lòi hẳn ra ngoài, vẫn nén đau, tiếp tục chiến đấu. Khi trận đánh kết thúc, anh nhường cáng cho thương binh nặng, tự mình đi về bệnh xá điều trị.

Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, một trung đoàn chủ lực ta tiêu diệt một tiểu đoàn quân chính quy ngụy do Mỹ huấn luyện, trang bị, chỉ huy. Trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, một trong những biện pháp chiến lược chủ yếu của Mỹ, ngụy là dùng quân chính quy ngụy, phổ biến là quy mô tiểu đoàn, dùng chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận” để mở các cuộc hành quân càn quét, tiêu diệt chủ lực Quân Giải phóng, hỗ trợ bảo an, dân vệ gom dân lập “ấp chiến lược”. Cùng với chiến thắng Ấp Bắc (tháng 1 năm 1963) và một số trận đánh khác, trong trận Đường Long, Trung đoàn 2 đã góp phần đánh bại biện pháp chiến lược này của địch. Trận đánh còn góp phần giải quyết một nhận thức không đúng trong một số cán bộ cho rằng chống càn là bị động, không thể diệt được địch trong chiến đấu chống càn ở địa hình rừng núi. Trận thắng giòn giã khẳng định vai trò, vị trí của bộ đội chủ lực. Với chiến thắng này, Trung đoàn 2 được tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba.

Bước sang năm 1964, phong trào “Thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công” tiếp tục được đẩy mạnh trên các chiến trường miền Nam. Để thực hiện quyết tâm đánh thắng địch trong “Chiến tranh đặc biệt”, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 3 (tháng 12 năm 1963) đã nhấn mạnh “vấn đề mấu chốt hiện nay là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải nỗ lực tột bậc để nhanh chóng tăng cường lực lượng quân sự, tạo ra một chuyển biến căn bản về so sánh lực lượng giữa ta và địch ở miền Nam. Về xây dựng lực lượng vũ trang, trên cơ sở phát triển mạnh du kích và bộ đội địa phương, phải đặt trọng tâm vào xây dựng bộ đội chủ lực. Về tác chiến, đẩy mạnh cách đánh vận động trên các địa bàn chiến lược nhằm tiêu diệt quân chính quy ngụy, làm cho tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực đóng vai trò quyết định trên chiến trường”. Theo phương hướng xây dựng và tác chiến đó, Trung đoàn 1 và 2 đều được kiện toàn đủ biên chế, trang bị. Mỗi trung đoàn đều có đủ 3 tiểu đoàn bộ binh và các đại đội trợ chiến (súng cối 81 mm, ĐKZ57, súng máy phòng không 12,7 mm).

Những tháng đầu năm 1964, hai Trung đoàn 1 và 2 tiếp tục hoạt động độc lập dưới sự lãnh đạo và chỉ huy trực tiếp của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền. Địa bàn hoạt động của Trung đoàn 1 trong thời gian này ở khu vực Trảng Bàng và Củ Chi; Trung đoàn 2 ở Bình Long và Phước Long. Cả hai trung đoàn đều tích cực huấn luyện, nâng cao trình độ đánh tập trung tiểu đoàn và trung đoàn, thực hiện yêu cầu diệt đại đội, tiểu đoàn bảo an và quân chính quy ngụy. Nhiều cách đánh mới được vận dụng có hiệu quả trong chiến đấu chống càn và phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương phá “ấp chiến lược”. Ban chỉ huy Trung đoàn 1 lúc này đồng chí Nguyễn Văn Tòng về làm Chính ủy thay đồng chí Lê Văn Nhỏ đi nhận nhiệm vị mới.

Từ kinh nghiệm đánh thắng địch của quân và dân Mỹ Tho tại Ấp Bắc đầu năm 1963 và trận đánh diệt tiểu đoàn 32 “Cọp đen” ở Đường Long - Bến Cát của Trung đoàn 2 cuối năm 1963, cùng với kết quả đợt huấn luyện, nhiều cách đánh mới được vận dụng trong chiến đấu chống càn và phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương phá “ấp chiến lựơc” của hai trung đoàn ngày càng có hiệu suất chiến đấu cao.

Ngày 6 tháng 2 năm 1964, Trung đoàn 1 được tăng cường một đại đội đặc công và một đại đội súng máy phòng không 12,7 mm của Miền đánh điểm “ấp chiến lược” Bến Cầu, dụ viện binh địch lên đánh tiếp, loại khỏi vòng chiến đấu hai đại đội bảo an, hai trung đội dân vệ, bắn rơi và bắn cháy 20 máy bay. Ngày 3 tháng 4, trung đoàn diệt đồn Phước Tân và đồn Tà-băng-rô-boong thuộc huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh, làm thương vong gần 200 lính bảo an, thu 115 khẩu súng. Cách đánh được vận dụng nhiều, ngày càng trở thành sở trường của Trung đoàn 1 là vận động phục kích và vận động tập kích. Ngày 20 tháng 7 năm 1964, Trung đoàn 1 phục kích chặn đánh một chiến đoàn địch gồm một chi đoàn xe M113 và một tiểu đoàn bộ binh hành quân vào An Nhơn Tây, Củ Chi để tiếp tế và giải vây cho đồn An Nhơn Tây đang bị du kích và bộ đội địa phương bao vây chặt. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Truyện và Chính ủy Nguyễn Văn Tòng, bộ đội đã bám trụ đánh địch suốt ngày, bắn cháy 5 xe M113, địch bỏ lại một chiếc và bắn rơi 1 máy bay, đánh lui năm đợt xung phong của xe thiết giáp M113 và bộ binh địch, tiêu hao nặng tiểu đoàn bộ binh địch, bẻ gãy cuộc hành quân. Địch ở đồn An Nhơn Tây bỏ chạy. Xã An Nhơn Tây được giải phóng, căn cứ Củ Chi được mở rộng.Tháng 9 năm 1964, được tin một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 9, sư đoàn 5 ngụy hành quân càn quét vào Phú Hoà Đông Củ Chi. Trung đoàn đã tổ chức trận địa phục kích ở Bàu Trăm. Địch đi vào trận địa ta đúng kế hoạch, ngay loạt đạn đầu ta đã tiêu diệt nhiều địch. Bị bất ngờ, địch rối loạn, đơn vị đi sau tháo chạy. Kết quả trận đánh, một tiểu đoàn địch bị tiêu hao nặng. Tháng 10 năm 1964, một chiến đoàn dù hành quân càn quét ở Phú Hoà Đông, Củ Chi, Trung đoàn 1 triển khai chặn đánh tại sở cao su già Bến Mương khi chúng rút về. Địch đi đúng vào trận địa, được lệnh của Trung đoàn trưởng, bộ đội đồng loạt nổ súng xung phong vào bên sườn đội hình địch. Tuy nhiên, bọn dù là lính thiện chiến, chúng liền bám vào gốc cao su già đánh trả, trong khi đó bộ đội ta xung phong thoát ra khỏi các cây cao su che chắn nên bị địch sát thương lớn. Kết thúc trận đánh, ta không diệt được địch mà còn bị thương và hy sinh 63 đồng chí. Kiểm điểm trận đánh, trung đoàn rút ra bài học lớn: khi đánh địch trong sở cao su phải biết lợi dụng các cây cao su mà giữ mình, diệt địch.

Thi đua với Trung đoàn 1, những tháng đầu năm 1964, Trung đoàn 2 cũng liên tiếp lập công trong các trận vận động tập kích. Điển hình như trận vâïn động tâïp kích diệt một đại đội thuộc trung đoàn 48 ngụy ở Bình Mỹ (tháng 2 năm 1964; trận đánh thiệt hại nặng một đại đội thuộc sư đoàn 5 ngụy ở An Nhơn Tây (tháng 3 năm 1964); trận vận động phục kích tiểu đoàn 37 biệt động quân ngụy ở Bàu Cá Trê (tháng 5 năm 1964), do Trung đoàn phó Nguyễn Thới Bưng chỉ huy, đã hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược Sình Bà Đã;  đặc biệt, tháng 7 năm 1964, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm, trung đoàn phục kích đánh tiêu diệt tiểu đoàn 34 biệt động quân, phá hủy 20 xe quân sự ở Cần Đâm...

Song song với nhiệm vụ tác chiến, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 còn tổ chức cho bộ đội làm công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang địa phương, hỗ trợ nhân dân đấu tranh chính trị và chống địch càn quét. Việc làm của hai trung đoàn đã thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, góp phần cùng cấp ủy Đảng và lực lượng vũ trang địa phương củng cố cơ sở, phát triển lực lượng, làm chuyển biến phong trào.

Những tháng cuối năm 1964, Trung đoàn 2 tiếp tục tổ chức một số trận đánh có hiệu quả. Điển hình là trận ngày 16 tháng 10, Tiểu đoàn 4 phục kích đoàn xe cơ giới địch khi chúng đang hành quân càn quét trên đường 13, đoạn đi qua huyện Bến Cát, tiêu diệt nhiều xe M113. Trong đó nổi lên gương chiến đấu của chiến sĩ Lý Văn Só bám công sự, chờ xe địch đến gần, dùng súng ĐKZ.57 bắn cháy hai xe M113. Chiến sĩ Phan Văn Tám bắn cháy một xe M113. Lý Văn Só và Phan Văn Tám trở thành “dũng sĩ diệt xe cơ giới”.

Đêm 31 tháng 10 năm 1964, Đại đội 16 súng cối 82 mm Trung đoàn 2 phối hợp với Đoàn pháo binh 80 của Miền tập kích hoả lực vào sân bay Biên Hoà. Mặc dù lệnh chiến đấu gấp, không có thời gian chuẩn bị, nhất là phương tiện vượt sông. Nhưng nhờ có sự giúp đỡ của đồng bào buôn bán trên sông, bộ đội và vũ khí đã qua sông kịp giờ nổ súng. Trận tập kích hỏa lực kéo dài 20 phút. Ta phá huỷ và phá hỏng 59 máy bay các loại, 2 kho đạn, 1 kho xăng, diệt và làm bị thương nhiều phi công, nhân viên kỹ thuật... Với chiến công xuất sắc trong trận phối hợp với Đoàn pháo binh 80 tập kích hoả lực sân bay Biên Hoà, Đại đội 16 Trung đoàn 2 được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba; Đại đội trưởng Tô Thái và Chính trị viên Tân được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.

Nhìn lại chặng đường gần 3 năm kể từ ngày thành lập, cùng đồng bào và các lực lượng vũ trang chiến đấu trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, hai Trung đoàn 1 và 2 đã phải vượt qua muôn vàn thử thách, đói cơm, thiếu muối, thiếu vũ khí trang bị, hoạt động phân tán, bom đạn địch ngày càng ác liệt, đặc biệt lúc đầu không có điều kiện củng cố tập trung nên vai trò của bộ đội chủ lực có lúc tưởng chừng không phát huy nổi. Song, trước hết là có sự chỉ đạo, chỉ huy chặt chẽ của Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền, sự đoàn kết giúp đỡ của lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, sự chi viện kịp thời về cơ sở vật chất kỹ thuật của miền Bắc. Những yếu tố đó đã tạo thành niềm tin để cán bộ, chiến sĩ hai trung đoàn xây dựng ý chí quyết tâm, từng bước khắc phục khó khăn, bám trụ địa bàn, tìm ra cách đánh thích hợp. Sáu tháng cuối năm 1964, cả hai trung đoàn đều có bước trưởng thành toàn diện trong chiến đấu. Từ độc lập tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn tiến tới đánh tập trung cấp trung đoàn, từ diệt những đơn vị địa phương bảo an dân vệ, đến diệt tiểu đoàn quân ngụy chính quy. Từ chỗ chưa có được niềm tin trong lực lượng vũ trang nhân dân địa phương, vì chưa phát huy được vai trò của bộ đội chủ lực, đến có được niềm tin tuyệt đối vào khả năng cơ động đánh những trận đánh quyết định, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giành lại thế chủ động trên chiến trường. Đó là niềm tin, niềm tự hào, là hành trang để Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 bước vào những trận đánh tiếp theo, chắc chắn sẽ ác liệt hơn, nhưng thắng lợi giành được sẽ to lớn hơn, vẻ vang hơn.

2. Chiến thắng Bình Giã (12.1964), bẻ gãy chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch, góp phần đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ

Trước thắng lợi của những đòn tiến công quân sự kết hợp đấu tranh chính trị của quân và dân ta, phong trào cách mạng ở miền Nam đang phát triển sâu rộng, mạnh mẽ thành cao trào khởi nghĩa từng phần, liên tục, tiến công quân địch ở nông thôn, rừng núi, đồng thời mở rộng đấu tranh tới cả vùng đô thị. Đánh giá về vai trò của bộ đội chủ lực vào thời điểm cuối năm 1964, trên cả hai mặt xây dựng và chiến đấu, tuy quy mô tổ chức tác chiến ở cấp trung đoàn còn ít, song bộ đội chủ lực Miền đã vươn lên đánh những trận xuất sắc, tiêu diệt được cả một tiểu đoàn quân chủ lực ngụy trong các cuộc hành quân càn quét của chúng, đã trực tiếp hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương và quần chúng nổi dậy đánh địch, góp phần đánh bại một bước âm mưu và biện pháp chiến lược, dùng quân chính quy ngụy càn quét, gom dân lập “ấp chiến lược” của đế quốc Mỹ.

Căn cứ vào sự phát triển mới của tình hình và so sánh lực lượng trên chiến trường, tháng 9 năm 1964, Bộ Chính trị chủ trương động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung mọi khả năng, thực hiện sự chuyển hướng mạnh mẽ trong sự phát triển của bộ đội chủ lực, đẩy mạnh tác chiến tập trung quy mô chiến dịch. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở đợt hoạt động Đông Xuân 1964-1965, nhằm tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy, mở rộng vùng giải phóng. Khu vực mở chiến dịch là Bà Rịa - Long Khánh và Bình Long - Phước Long.

Sau một thời gian nghiên cứu, chuẩn bị chiến trường, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch tiến công địch ở Bình Giã. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực ngụy và bọn bảo an dân vệ; đẩy mạnh chiến tranh du kích, hỗ trợ nhân dân phá “ấp chiến lược” mở rộng vùng giải phóng, nối liền các căn cứ miền Đông với vùng ven biển Khu 6, bảo vệ các bến tiếp nhận hàng bằng đường biển do miền Bắc đưa vào và rèn luyện nâng cao trình độ đánh vận động của bộ đội chủ lực. Bộ Chỉ huy chiến dịch được thành lập do đồng chí Trần Đình Xu làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Văn Tưởng làm Chính ủy.

Đầu tháng 11 năm 1964, Trung đoàn 1 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Truyện và Chính ủy Nguyễn Văn Tòng; Trung đoàn 2 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm và Chính uỷ Nguyễn Văn Quảng cùng Đoàn pháo binh 80 hành quân về chiến trường Bà Rịa. Ngày 20 tháng 11, Trung đoàn 1 có mặt tập kết ở đông đường số 2, nam Xuân Sơn; Trung đoàn 2 ở đông nam núi Nghệ.

Ngày 2 tháng 12 năm 1964, bộ đội pháo binh tập kích hoả lực chi khu quân sự Đức Thạnh, đại đội 445 bộ đội địa phương Bà Rịa tiến công “ấp chiến lược” Bình Giã, diệt 60 tên bảo an dân vệ, làm chủ toàn bộ “ấp chiến lược”. Đây là trận đánh khêu ngòi mở màn chiến dịch, nhằm kéo quân chủ lực ngụy ra giải toả, tạo điều kiện cho Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 đánh vận động, diệt địch ngoài công sự.

Ngày 8 tháng 12, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 1 tiến công chi khu quân sự Đất Đỏ, diệt 100 tên, thu 32 súng (có 1 khẩu đại liên), 2 máy vô tuyến điện.

Trước áp lực ngày càng tăng của ta, ngày 9 tháng 12, địch mở cuộc hành quân “Bình Tuy 33”, cho chi đoàn 3 thiết đoàn 1 ngụy theo đường số 2 lên giải toả cho Bình Giã. Trung đoàn 2 do Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm chỉ huy, bằng cách đánh vận động phục kích tiêu diệt gọn chi đoàn xe M113 gồm 14 chiếc của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 100 tên ( có 9 cố vấn Mỹ), bắt 6 tên, thu hơn 80 khẩu súng các loại, 30.000 viên đạn.

Đợt 1 chiến dịch kết thúc, các trận thắng giòn giã của Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2, đặc biệt là trận thắng trên đường số 2 của Trung đoàn 2, đã cổ vũ tinh thần chiến đấu của bộ đội trên toàn mặt trận.

Ngày 27 tháng 12 năm 1964, Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 1 phối hợp cùng đại đội 445 bộ đội địa phương Bà Rịa tiến công “ấp chiến lược” Bình Giã lần thứ hai, mở màn đợt 2 chiến dịch. Ngày hôm sau (28 tháng 12), do sự phán đoán chính xác hành động của địch và bố trí lực lượng đúng, tập trung hoả lực súng máy phòng không 12,7 mm khống chế, buộc địch đổ bộ đường không xuống khu vực ta đã bố trí sẵn. Trung đoàn 1 đã tiêu diệt tiểu đoàn 33 biệt động quân ngụy, bắn rơi 18 máy bay lên thẳng. 5 giờ chiều ngày 30 tháng 12, súng máy phòng không 12,7 mm của ta tiếp tục bắn rơi 1 máy bay trực thăng chở 4 cố vấn Mỹ, máy bay rơi vào sở cao su Xuân Sơn, trong vòng kiểm soát của ta.

Tiếp theo trận diệt chi đoàn xe M113 địch trên đường số 2 của Trung đoàn 2, trận tiêu diệt tiểu đoàn 33 biệt động quân ngụy ở khu vực Bình Giã của Trung đoàn 1, là chiến thắng giòn giã thứ hai trong chiến dịch Bình Giã. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam và trong phạm vi một chiến dịch, hai biện pháp chiến thuật chủ yếu trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt” là “thiết xa vận” và “trực thăng vận” của Mỹ - ngụy đã bị bộ đội ta đánh bại.

Để cứu nguy cho “ấp chiến lược” Bình Giã, ngày 31 tháng 12, địch dùng 14 máy bay lên thẳng, chở tiểu đoàn 4 lính thuỷ đánh bộ mang tên “cá kình biển Đông” đổ xuống đông nam “ấp chiến lược” La Vân, tiểu đoàn này có nhiệm vụ hành quân vào nơi trực thăng rơi để tìm xác Mỹ. Nắm được tình hình qua trinh sát mặt đất, Chính ủy Nguyễn Văn Tòng và Trung đoàn phó Bùi Thanh Vân lập tức hạ lệnh cho các tiểu đoàn sẵn sàng chiến đấu và xin phép Ban Chỉ huy chiến dịch cho trung đoàn trưởng và các tiểu đoàn trưởng về chỉ huy đánh giặc, vì các tiểu đoàn trưởng đã bố trí ở ba hướng của sở cao su, trong khi đó tiểu đoàn 4 thủy quân lục chiến ngụy đã hành quân vào giữa đội hình của Trung đoàn. Trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Truyện lập tức lệnh cho Đại đội 6 Tiểu đoàn 2 làm nhiệm vụ dụ địch vào sâu trong rừng cao su Xuân Sơn, các đại đội khác nhanh chóng tiếp cận, hình thành thế bao vây hai bên sườn. Đại đội 3 Tiểu đoàn 1 luồn ra phía sau để bọc hậu. Với cách đánh táo bạo, bất ngờ của bộ đội ta, toàn bộ tiểu đoàn 4 lính thuỷ đánh bộ ngụy mang tên “cá kình biển Đông” bị tiêu diệt, trong đó có tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Nho.

Trong khi đó, ngày 1 tháng 1 năm 1965, địch cho một số xe cơ động theo đường số 2 lên cứu bọn tàn quân của tiểu đoàn 4 lính thuỷ đánh bộ, vừa bị Trung đoàn 1 tiêu diệt. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 Tạ Minh Khâm lệnh cho Tiểu đoàn 4 vận động tiến công tiêu diệt 10 xe cơ giới ở gần núi Cốc Tiên. Ngày 3 tháng 1, Trung đoàn 2 tiếp tục vận động phục kích trên đoạn đường từ Bà Rịa lên Đức Thạnh, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 35 biệt động quân ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu 170 tên, phá hủy 18 xe (có 12 xe tăng, 6 xe bọc thép M113). Giữa lúc nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương, bộ đội chủ lực Miền đang vui mừng trước thắng lợi của chiến dịch Bình Giã, thì ngày 9 tháng 2 năm 1965, địch dùng trực thăng chở 2 tiểu đoàn dù thuộc lực lượng trù bị chiến lược đổ bộ xuống trảng cỏ tranh Chòi Đồng, nhằm phản kích chiếm lại khu vực Bình Giã. Nhận lệnh của cấp trên, Trung đoàn 2 do Trung đoàn phó Nguyễn Thới Bưng chỉ huy nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Cuộc tiến công diễn ra rất ác liệt và kéo dài hơn 3 giờ đồng hồ. Kết quả địch bị loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên (có 31 tên Mỹ), 25 trực thăng bị bắn cháy và hư hại, ta thu nhiều vũ khí, đạn dược. Về phía Trung đoàn 2 có 84 đồng chí bị thương, 43 đồng chí hy sinh. Chiến thắng Chòi Đồng là hệ quả trực tiếp của chiến dịch Bình Giã, đã đánh gãy cuộc hành quân phản kích của lữ đoàn dù ngụy Sài Gòn. Lần đầu tiên trong một trận đánh, một thời gian ngắn các phiên hiệu quân trù bị chiến lược, thủy quân lục chiến, chiến đoàn dù, chiến đoàn biệt động quân, với phương tiện chiến tranh hiện đại đã bị đánh tan tác, mở đầu cho sự sụp đổ của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chế độ ngụy quyền Sài Gòn. Đây là trận đánh cuối cùng kết thúc thắng lợi chiến dịch Bình Giã.

Trong gần 3 tháng chiến đấu, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của Quân ủy - Bộ Tư lệnh Miền, trực tiếp là Bộ Chỉ huy chiến dịch Bình Giã. Được sự giúp đỡ của lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thực hiện tốt chức năng trung đoàn chủ lực đánh những trận then chốt quyết định. Kết quả chiến dịch Bình Giã, ta loại khỏi vòng chiến đấu 1.227 tên địch, có 6 tên Mỹ, 40 sĩ quan ngụy, bắt 113 tên, có 5 sĩ quan ngụy, bắn rơi 25 máy bay, (24 trực thăng, 1 khu trục), bắn cháy 32 xe M113, thu 461 súng các loại (44 đại liên, 1 ĐKZ57) và 70 máy thông tin. Với những thành tích trên, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 đã góp phần cùng quân và dân miền Nam đánh bại quân ngụy, “xương sống” của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Thắng lợi của chiến dịch Bình Giã còn có ý nghĩa về chiến lược, báo hiệu sự phá sản về chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy.

Trong chiến dịch Bình Giã, việc đảm bảo vũ khí còn rất hạn chế, bộ đội chủ yếu sử dụng các loại súng trường, súng máy, đại liên... lấy của quân đội Pháp trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Trước khi vào chiến dịch, Trung đoàn 1 phát động phong trào “mang đạn nghĩa vụ” từ căn cứ ra chiến trường. Người hưởng ứng phong trào đầu tiên là Trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Truyện đã gương mẫu mang thêm 1 dây đạn 12,7 mm từ căn cứ đến chiến trường Bà Rịa. Trong chiến đấu đã xuất hiện nhiều gương dũng cảm như: chiến sĩ liên lạc Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 1 Nguyễn Chiến Thắng, đã mưu trí dũng cảm đánh tạt sườn cụm hoả lực của địch, tạo điều kiện cho đại đội xung phong. Tiểu đội trưởng Lê Văn Đáp, chiến sĩ xung kích Hoàng Đình Nghĩa luôn luôn là một mũi dao bén nhọn chọc thẳng vào tim quân thù “đâu có địch là lao đến diệt địch”, tạo ra được phong trào học tập Lê Văn Đáp... Chiến sĩ trẻ Nguyễn Văn Xộn ở Trung đoàn 2, bị xích xe địch nghiến nát một cánh tay đã dùng tay còn lại tung lựu đạn làm đứt xích xe địch. Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ chỉ huy bộ đội vận động phục kích diệt nhiều xe thiết giáp địch, được đồng đội yêu mến tặng danh hiệu “Đại đội trưởng chặn đầu”... Trung đoàn 1 nêu hai kỷ lục: hiệu suất chiến đấu cao (trong ba ngày diệt gọn hai tiểu đoàn) và lần đầu tiên diệt gọn một tiểu đoàn thuộc lực lượng dự bị chiến lược của địch trên chiến trường. Trung đoàn 2 nêu kỷ lục mới về đánh xe cơ giới, vận động phục kích giữa ban ngày, diệt gọn 1 chi đoàn xe bọc thép địch, đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” của chúng. Với những chiến công xuất sắc trong chiến dịch Bình Giã, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định tặng thưởng hai Trung đoàn 1 và 2 Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba. Riêng Trung đoàn 1 được tặng danh hiệu vẻ vang “Đoàn Bình Giã”.

Thắng lợi của chiến dịch Bình Giã đã giải phóng thêm một đoạn bờ biển Bà Rịa. Đêm mồng 1 tháng 2 năm 1965 (tức 30 tết Ất Tỵ), một chiếc tàu không số của Hải quân nhân dân Việt Nam vào cửa Lộc An, cập bến Tranh, Sông Ray. Ngay trong đêm, Đoàn 1500 và Trung đoàn 1 khẩn trương chuyển lên bờ 70 tấn vũ khí (trong đó có nhiều AK47. Trung đoàn 1 là đơn vị đầu tiên được trang bị súng AK47. đây là món quà Xuân đầy ý nghĩa của hậu phương lớn miền Bắc gửi tặng cho quân dân Nam Bộ. Tiếp theo là Trung đoàn 2 cũng được trang bị mới súng AK47. Từ đây, sức chiến đấu của hai trung đoàn được tăng lên gấp bội.

3. Chiến thắng Đồng Xoài tháng 6 năm 1965, khẳng định vai trò của quân chủ lực Miền trong tiến công tiêu diệt chi khu

Sau chiến dịch Bình Giã, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 hành quân về Chiến khu Đ. Dưới sự chỉ đạo của Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền, hai trung đoàn tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm chiến đấu trong chiến dịch, bổ sung quân số, trang bị, bồi dưỡng sức khỏe, chăm sóc thương binh, bệnh binh; Đồng thời tổ chức cho bộ đội học tập tình hình nhiệm vụ cách mạng, nâng cao quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và huấn luyện bổ sung về kỹ thuật, chiến thuật chuẩn bị cho những trận chiến đấu và những chiến dịch mới, đánh thắng địch trong “chiến tranh đặc biệt” và sẵn sàng đánh thắng quân viễn chinh Mỹ nếu chúng nhảy vào chiến trường miền Nam.

Trong thời gian này, Trung đoàn 3 sau khi làm lễ ra mắt đã ổn định về tổ chức biên chế cũng tập trung học tập và huấn luyện cùng với hai Trung đoàn 1 và 2.

Mùa hè năm 1965, trong không khí sục sôi quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược của quân và dân cả nước, các Trung đoàn 1, 2, 3 và Đoàn pháo binh 80 lại lên đường đi chiến dịch. Quyết tâm của Quân uỷ – Bộ Tư lệnh Miền trong chiến dịch này là tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, đẩy mạnh chiến tranh du kích, hỗ trợ quần chúng phá “ấp chiến lược”, mở rộng vùng giải phóng, nối liền các căn cứ của Miền với nam Tây Nguyên, tạo điều kiện mở đường vận tải chiến lược từ miền Bắc vào đến miền Đông Nam Bộ. Địa bàn mở chiến dịch là hai tỉnh Bình Long, Phước Long (hướng chính) và các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Bà Rịa, Long Khánh, Biên Hoà (hướng phối hợp). Chiến dịch mang tên Sông Bé – Phước Long (còn gọi là chiến dịch Đồng Xoài).

Ban Chỉ huy chiến dịch do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tư lệnh Miền làm Chỉ huy trưởng, Thiếu tướng Trần Độ, Phó chính ủy Miền làm Chính ủy, đồng chí Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) - Tư lệnh Quân khu 6 làm Chỉ huy phó và Đại tá Hoàng Cầm làm Tham mưu trưởng. Chiến dịch bắt đầu đêm 10 rạng 11 tháng 5 năm 1965.

Hướng chính, vào lúc 0 giờ 45 phút ngày 11 tháng 5, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1) phối hợp với Tiểu đoàn 840 chủ lực Quân khu 6, được tăng cường một trung đội đặc công, 6 khẩu ĐKZ75, 3 khẩu 12,7 mm, thực hành tiến công thị xã Phước Long. Sau khi chiếm được một số mục tiêu trong thị xã, bộ đội ta trụ lại, đánh lui 6 đợt phản kích của địch, diệt hai đại đội thuộc tiểu đoàn 36 biệt động quân ngụy, bắn rơi 13 máy bay. Chiều ngày 11 tháng 5, ta rút ra đánh địch ở vòng ngoài.

Cùng thời gian, Trung đoàn 1 đánh Phước Long, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 tiến công chi khu quân sự Phước Bình, nằm trên trục đường số 2, cách thị xã Phước Long 6 ki-lô-mét về phía nam, chi khu Phước Bình do 2 đại đội bảo an và dân vệ phòng giữ. Do chuẩn bị chu đáo về công tác bảo đảm như trinh sát điều tra địa hình, khắc phục khó khăn bảo đảm đủ nhu cầu về đạn, thuốc nổ, lương thực, thuốc quân y... cán bộ, chiến sĩ có tinh thần quyết tâm chiến đấu diệt địch cao. Nên sau 25 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 5 đã làm chủ chi khu Phước Bình, loại khỏi vòng chiến đấu 140 tên địch, bắt 105 tên, thu 221 khẩu súng, nhiều đạn được và đồ dùng quân sự. Toàn Tiểu đoàn 5 chỉ có 3 chiến sĩ bị thương nhẹ.

Đợt một chiến dịch mở đầu bằng những thắng lợi giòn giã. Mỹ, ngụy phải mở các cuộc hành quân giải toả bằng đường bộ và cơ động bằng máy bay lên thẳng, đổ ba tiểu đoàn thuộc trung đoàn 48 và tiểu đoàn 34 biệt động quân xuống Phước Long và Phước Bình. Song, do phán đoán khu vực đổ quân của địch không chính xác, nên các trận đánh quân viện trong nửa cuối tháng 5 của các đơn vị kết quả diệt địch không cao.

Ban Chỉ huy chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tổ chức sinh hoạt rút kinh nghiệm, kịp thời phân tích đánh giá âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch, đồng thời nghiêm khắc kiểm điểm rút kinh nghiệm tác chiến mấy ngày đầu, có phương hướng hoạt động cụ thể để thực hiện bước hai chiến dịch.

Ngày 9 tháng 6 năm 1965, chiến dịch bước vào đợt 2. Trung đoàn 2 được Bộ Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ đánh trận then chốt, tiêu diệt chi khu quân sự Đồng Xoài, sau đó trụ lại không cho địch đổ bộ đường không xuống chi khu mà phải đổ quân xuống khu vực Trung đoàn 1 đã bố trí sẵn.

Chi khu quân sự Đồng Xoài (còn gọi là Đôn Luân) thuộc tỉnh Phước Long, nằm ở ngã tư của bốn con đường: liên tỉnh lộ 13, liên tỉnh lộ 1, quốc lộ 14 và đường số 2. Đây là một điểm của tứ giác: Đồng Xoài - Phước Long - Chơn Thành - Bình Long, trong hệ thống phòng thủ vòng ngoài của địch ở phía bắc Sài Gòn, một vị trí có giá trị khống chế các đường giao thông huyết mạch nối liền miền Đông Nam Bộ với nam Tây Nguyên và đông bắc Campuchia. Do vị trí quan trọng và hiểm yếu, địch thường xuyên bố trí ở Đồng Xoài 4 đại đội biệt kích, 1 đại đội bảo an, 1 đại đội dân vệ, 2 trung đội cảnh sát, 1 chi đội cơ giới (7 xe), hai khẩu pháo 105 mm và nhiều hoả lực khác. Hệ thống phòng thủ trong chi khu gồm 5 lô cốt chính, nhiều hầm ngầm, ụ bổ trợ và hệ thống công sự bảo vệ từng khu vực. Từ khi thị xã Phước Long và chi khu Phước Bình bị ta tiến công, địch tăng cường tuần tra, đêm nào cũng tập báo động. Mỗi lần báo động (kéo dài từ 10 đến 15 phút), tất cả các loại hoả lực trong chi khu đều bắn ra loạn xạ.

Để đảm bảo chắc thắng trong trận then chốt chiến dịch, Bộ Chỉ huy chiến dịch tăng cường cho Trung đoàn 2, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 3), 1 tiểu đoàn pháo binh của Miền (2 khẩu sơn pháo 75 và 2 khẩu bộ binh pháo 70). 1 đại đội ĐKZ75 (6 khẩu), 1 đại đội trọng liên 12,8 mm, 1 đại đội cối 82 và 1 đại đội súng phun lửa.

Ngày 9 tháng 6 năm 1965, Trung đoàn 2 và các đơn vị tăng cường phối thuộc tham gia trận đánh rời vị trí tập kết, hành quân về hướng Đồng Xoài.

Đêm mồng 9 tháng 6, các đơn vị đến vị trí xuất phát xung phong. Bộ đội ta đào công sự, triển khai bộc phá phá rào, đưa ĐKZ vào gần lô cốt. Theo phương án chiến đấu, thời gian nổ súng là 24 giờ. Nhưng vào lúc 22 giờ 40 phút, trận địa pháo 105 của địch trong chi khu bắn 2 phát, sau đó hầu như toàn bộ hoả lực địch bắn về hướng 2 Tiểu đoàn 4 và 5 đang tiếp cận. Ban Chỉ huy Trung đoàn phán đoán địch tập báo động như mọi đêm khác. Nhưng thấy địch bắn mạnh và kéo dài, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 cho rằng trung đoàn đã cho nổ súng nên lệnh cho ĐKZ và đại liên bắn vào các mục tiêu đã được phân công trong chi khu. Trước tình đó, Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm trao đổi với Chính ủy Nguyễn Văn Quảng báo cáo lên Bộ Chỉ huy chiến dịch và lệnh cho các mũi đồng loạt nổ súng. Các chiến sĩ đánh bộc phá anh dũng xông lên mở cửa. Địch cho cơ giới ra bịt cửa mở và tập trung hoả lực vào những nơi phát hiện bộ đội ta tiến công. Lính địch ném lựu đạn và dùng súng phóng lựu bắn vào các cửa mở. Phần lớn các chiến sĩ đánh bộc phá bị thương và hy sinh. Một số trận địa pháo bắn thẳng của trung đoàn bị trúng đạn địch, pháo thủ thương vong, pháo bị hỏng. Có khẩu đã bắn gần hết đạn. Ở Đại đội 2 Tiểu đoàn 4, đại đội trưởng hy sinh, chính trị viên bị thương. Ở Tiểu đoàn 5, chính trị viên Đại đội 6 và Đại đội phó Đại đội 8 hy sinh. Sau 20 phút tiến công, các mũi mới mở được 2 đến 3 lớp rào, chưa mũi nào đột phá vào được chi khu.

Trước tình hình đó, Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm, Chính uỷ Nguyễn Văn Quảng, Chủ nhiệm chính trị Phan Khéo chia nhau xuống các đơn vị chỉ đạo khắc phục khó khăn, tổ chức lại lực lượng, động viên cán bộ, chiến sĩ tiếp tục tiến công. Tham mưu trưởng Trần Xoa ở lại Sở chỉ huy Trung đoàn giữ mối liên lạc. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 điều trợ lý tham mưu xuống làm Đại đội phó Đại đội 2 đưa khẩu sơn pháo 75 lên gần hơn, điều thêm đạn cho các hoả khí bắn thẳng và đưa các tổ bộc phá dự bị lên. Đại đội trưởng Đại đội 1 Tạ Quang Tỷ và trợ lý chính trị tiểu đoàn Hà Văn Cheo được điều sang làm đại đội trưởng và chính trị viên Đại đội 2 đơn vị chủ công.

Một giờ sáng ngày 10 tháng 6, các mũi tiến công của trung đoàn tổ chức đột phá lần thứ 2. Rút kinh nghiệm đợt 1, Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm quyết định đưa các khẩu đội hoả lực (sơn pháo 75, ĐKZ75, phòng không 12,7 mm, đại liên, súng phun lửa...) lên gần hơn, tập trung hoả lực chế áp các hoả điểm và các trận địa pháo địch. Có khẩu đội đưa súng, pháo lên sát hàng rào, bờ tường, công sự, chi viện bộ binh đánh chiếm đầu cầu. Có mũi đánh hết bộc phá mà hàng rào địch vẫn còn, các chiến sĩ bộ binh tìm cách vượt qua hàng rào để tiếp tục tiến công. Sơn pháo 75, ĐKZ57 và súng cối... hết đạn thì dùng súng phun lửa, tiểu liên, trung liên bắn kiềm chế hoả điểm địch, tạo điều kiện cho bộ binh dùng thủ pháo mở cửa. Ở đại đội chủ công, Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ phân công cán bộ xuống từng mũi, động viên và tổ chức bộ đội bò lên sát hàng rào, khi bộc phá nổ sẽ chớp thời cơ xung phong chiếm mục tiêu, toàn bộ hoả lực còn lại của đại đội (1 quả đạn ĐKZ75, 1 ống bộc phá rào, 100 viên đạn 12,7 mm) tập trung chi viện cho mũi chủ yếu. Bộc phá vừa nổ, Đại đội trưởng Tạ Quang Tỷ dẫn đầu đơn vị xông thẳng vào đồn địch. Mặc dù bị thương ở cánh tay, Tạ Quang Tỷ vẫn tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu và cùng đồng đội đưa thương binh tử sĩ về phía sau. Khâm phục tinh thần chiến đấu của Tạ Quang Tỷ, đồng đội đặt cho anh một danh hiệu mới: “đại đội trưởng đột phá”.

Ở hướng Tiểu đoàn 5, Đại đội 7 đột phá hai lần không thành công. Chính trị viên đại đội Lê Chí Tâm tổ chức lại lực lượng, động viên cán bộ, chiến sĩ đột phá lần thứ 3. Lê Chí Tâm đã anh dũng hy sinh khi dẫn đầu đơn vị vượt qua cửa mở. Mũi tiến công của đại đội Nguyễn Văn Sinh bị địch chống trả quyết liệt, phần lớn các chiến sĩ bị thương và hy sinh. Còn lại một mình tiểu đội phó Nguyễn Văn Sinh đã đánh liên tiếp 4 quả bộc phá, mở cửa cho đơn vị thọc sâu đánh chiếm mục tiêu. Tiểu đoàn 6 là lực lượng dự bị, nhưng khi thấy cửa đã mở và phát hiện quân địch trong chi khu bắt đầu rối loạn, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Nguyễn Văn Thông và Đại đội trưởng Đại đội 12 Đặng Văn Dung chớp thời cơ có lợi, tổ chức lực lượng đánh thẳng vào trung tâm chi khu, cùng các đơn vị bạn diệt những tên địch còn ngoan cố chống cự ở dinh quận trưởng, khu cố vấn Mỹ.

8 giờ sáng ngày 10 tháng 6, các đơn vị của Trung đoàn 2 đã làm chủ hoàn toàn chi khu quân sự Đồng Xoài. Theo phương án chiến đấu, nhiệm vụ tiếp theo của Trung đoàn 2 là trụ lại trong chi khu, sẵn sàng đánh địch phản kích, không cho chúng đổ quân bằng trực thăng xuống chi khu mà phải đổ xuống phía bắc, nơi Trung đoàn 1 đã bố trí lực lượng chờ sẵn.

Khoảng 15 giờ chiều, địch dùng trực thăng đổ tiểu đoàn 25 biệt động quân xuống đông bắc chi khu. Lập tức Trung đoàn trưởng Tạ Minh Khâm lệnh cho Tiểu đoàn 4 nhanh chóng chặn đánh diệt một đại đội, số còn lại bỏ chạy toán loạn.

Do bị Trung đoàn 2 khống chế, không đổ quân xuống được Đồng Xoài, 10 giờ sáng ngày 10 tháng 6, địch dùng máy bay lên thẳng đổ hai đại đội và tiểu đoàn bộ tiểu đoàn 1, trung đoàn 7, sư đoàn 5 ngụy xuống Thuận Lợi, cách Đồng Xoài 3 ki-lô-mét về phía bắc, với ý định tạo bàn đạp, chuẩn bị phản kích chiếm lại Đồng Xoài. Nhưng chúng đã đổ quân đúng trận địa chọn sẵn của Trung đoàn 1. Dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Truyện, Chính uỷ Nguyễn Văn Tòng, Tham mưu trưởng Bùi Thanh Vân, Chủ nhiệm chính trị Đặng Văn Thượng, các tiểu đoàn đã nhanh chóng vận động, bao vây, chia cắt, tiêu diệt toàn bộ quân địch (có 14 cố vấn Mỹ), bắt 87 tên. Chiều hôm đó, địch đổ đại đội còn lại của tiểu đoàn 1 xuống sân bay Thuận Lợi, nhưng bị lực lượng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1 phục sẵn tiêu diệt gọn. Tiểu đoàn 1, trung đoàn 7, sư đoàn 5 ngụy bị xoá sổ.

Sau gần 3 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, trận then chốt Đồng Xoài trong chiến dịch Sông Bé - Phước Long kết thúc thắng lợi. Quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu 608 tên, 4 đại đội biệt kích, 1 đại đội bảo an, 1 đại đội dân vệ, 1 trung đội pháo 105 mm, 1 trung đội cảnh sát, 1 chi đội cơ giới bị tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng. Ta thu 148 khẩu súng các loại, gần 20.000 viên đạn, bắn rơi 7 máy bay. Trung đoàn 2 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhưng cũng bị tổn thất khá nặng: 134 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 290 đồng chí bị thương.

Trước sự kiện chi khu quân sự Đồng Xoài, bị đối phương làm chủ, tiểu đoàn 52 biệt động quân đổ xuống đông bắc chi khu bị tiêu diệt, tiểu đoàn 1, trung đoàn 7, sư đoàn 5 ngụy đổ xuống Thuận Lợi bị đánh tan, ngày 12 tháng 6, bộ tham mưu ngụy quyết định tung tiểu đoàn 7 dù, là lực lượng dự bị chiến lược vào trận. Nhưng ngay từ khi chiếc máy bay lên thẳng chở quân đầu tiên xuất hiện, chiến sĩ thông tin Đoàn Hoàng Minh mặc cho bom pháo nổ dưới chân, vẫn anh dũng đứng lên tháp nước cao quan sát, đã phát hiện chính xác, báo cáo kịp thời về Sở Chỉ huy Trung đoàn 1. Đựơc lệnh của Trung đoàn trưởng Nguyễn Thế Truyện, từ các trận địa mai phục, các phân đội nhanh chóng xuất kích, tạo thế bao vây, chia cắt, diệt từng tốp địch. Trận đánh ác liệt kéo dài gần 2 giờ đồng hồ, tiểu đoàn dù số 7 “con cưng” của ngụy quyền Sài Gòn chỉ còn 70 tên chạy thoát về Phước Vĩnh. Lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, một tiểu đoàn dù của quân ngụy bị tiêu diệt. Tiếp theo tiểu đoàn 4 lính thủy đánh bộ bị diệt ở Bình Giã, đây là tiểu đoàn thứ 2 trong 9 tiểu đoàn thuộc lực lượng dự bị chiến lược của Mỹ - ngụy bị Trung đoàn 1 tiêu diệt. Quân ngụy bị thêm một tổn thất nặng, bị đẩy thêm một bước đến bờ vực của sự sụp đổ.

Với chiến công xuất sắc trong trận then chốt chiến dịch tiêu diệt chi khu quân sự Đồng Xoài, Trung đoàn 2 đã được Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền tặng danh hiệu vẻ vang: “Đoàn Đồng Xoài”.

Chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài đánh dấu một chặng đường xây dựng và chiến đấu của bộ đội chủ lực Miền. Đây là thời kỳ hình thành, trải qua đấu tranh và phấn đấu gian khổ, vừa chiến đấu, vừa xây dựng; vừa lấy lực lượng tại chỗ, vừa dựa vào sự chi viện ngày càng lớn của hậu phương miền Bắc để trưởng thành. Việc hình thành một khối chủ lực ngày càng lớn mạnh ở một địa bàn chiến lược là Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, việc thực hành các chiến dịch có ý nghĩa xoay chuyển cục diện chiến trường của bộ đội chủ lực phản ánh đúng đắn quy luật phát triển của chiến tranh cách mạng miền Nam. Nó khẳng định vị trí, vai trò của bộ đội chủ lực; tạo cơ sở cho các giai đoạn xây dựng, chiến đấu của Sư đoàn 9 sau này. Qua hai chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài, Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 đã phối hợp chiến đấu tốt và hiệu suất cao, đây chính là cơ sở cho tác chiến hiệp đồng binh chủng cấp binh đoàn sau này. Cũng trong chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài đã hình thành cách đánh gần, hiệp đồng theo tiếng súng, nắm thắt lưng địch mà đánh… làm cơ sở cho cách đánh Mỹ sau này, hạn chế hỏa lực địch. Thắng lợi của ta trong Chiến dịch Bình Giã, Đồng Xoài đã góp phần làm thất bại hoàn toàn, kết thúc chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.