//
JA Teline III - шаблон joomla Книги

Tuesday, Oct 17th

Last updateMon, 09 Oct 2017 9am

You are here: Home LỊCH SỬ VÀ TƯ LIỆU LỊCH SỬ SƯ ĐOÀN 9 Phần thứ nhất (Chương hai)

Phần thứ nhất (Chương hai)

Chương hai

CÙNG VỚI QUÂN VÀ DÂN MIỀN ĐÔNG NAM BỘ ĐÁNH BẠI Ý ĐỒ CỦA MỸ MỞ RỘNG CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG

I. CHIẾN ĐẤU TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MỞ RỘNG

1. Cùng các đơn vị bạn chiến đấu giải phóng các tỉnh phía đông và đông bắc Campuchia

Đông Xuân 1969-1970, Sư đoàn tiếp tục bám trụ, vừa xây dựng lực lượng, vừa đánh địch ở vùng biên giới trên địa bàn phía bắc tỉnh Tây Ninh. Trong khi đó, sau khi giải toả được áp lực của ta ở các thành phố thị trấn, với chính sách bình định quyết liệt, Mỹ - ngụy đã chiếm lại đựơc phần lớn vùng nông thôn, đồng thời tăng cường đánh phá các căn cứ của ta ở vùng núi, gây cho ta rất nhiều khó khăn. Để thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá”, “Lào hoá”, “Khơ-me hoá” cuộc chiến tranh, đế quốc Mỹ chỉ huy bọn tay sai Lon Non - Xiríc MaTắc làm đảo chính ở Campuchia, lật đổ Quốc vương Xi-ha-núc, âm mưu đưa nước Campuchia trung lập vào “quỹ đạo” của Mỹ, tạo tiền đề cho việc mở rộng chiến tranh sang đất Campuchia, triệt phá các cơ sở hậu cần, đường vận tải, chỗ đứng của cơ quan lãnh đạo và các đơn vị chủ lực trên đất Bạn.

Phân tích tình hình ba nước Đông Dương, đặc biệt là tình hình Campuchia sau cuộc đảo chính, ngày 18 tháng 3 năm 1970, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta nhận thấy một tình thế mới đã xuất hiện. Đông Dương trở thành một chiến trường. Nhân dân ba nước Đông Dương có chung một kẻ thù là đế quốc Mỹ xâm lược. Mỹ đảo chính và đẩy nước Campuchia vào tình trạng chiến tranh là một hành động can thiệp thô bạo vào chủ quyền của Campuchia, một tội ác nguy hiểm; nhưng là một tình huống mà ta có thể lợi dụng để giành lại thế chủ động tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng trên đất ta và đất bạn ở hai bên đường biên giới, hỗ trợ nhân dân Campuchia nổi dậy chống chính quyền phản động Lon Non, giúp bạn phát triển thế và lực của cách mạng, tạo điều kiện cho ta giải quyết khó khăn trước mắt về bảo đảm hậu cần.

Theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, trực tiếp là Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã giao nhiệm vụ cho các đơn vị gấp rút chuẩn bị phản công nếu Mỹ và  ngụy Sài Gòn đánh sang Campuchia; đồng thời, tích cực tham gia sơ tán, bảo vệ kho tàng ở khu vực sát biên giới nước bạn.

Trên hướng bắc và tây bắc thị xã Tây Ninh, Trung đoàn 2 và 3 tổ chức một số trận vận động tập kích và phục kích ở Thiện Ngôn, tây đường 22, gây cho lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn kỵ binh bay Mỹ một số thiệt hại. Ngày 26 tháng 3 năm 1970, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 2) vận động tập kích đánh thiệt hại nặng một đại đội quân Mỹ ở Mi-mốt, thu 24 khẩu súng. Ngày 31 tháng 3, Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 2) vận động tập kích cụm quân Mỹ ở Tà Xia loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên, phá hủy 30 xe quân sự, 15 khẩu pháo, bắn rơi 2 máy bay. Trong khi đó, ngày 24 tháng 3, Trung đoàn 3 tổ chức tiến công cụm quân Mỹ ở trảng Bà Điếc, trận then chốt mở màn cho chiến dịch Xuân Hè năm 1970, diệt và làm bị thương 200 tên, phá huỷ 30 xe bọc thép, 10 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay lên thẳng. Về phía đơn vị hy sinh 28 đồng chí, bị thương 79 đồng chí. Trong trận Tà Xia của Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 2), nổi lên gương chiến đấu dũng cảm của Trung đội trưởng kiêm y tá đại đội Nguyễn Minh Chữ, khi đơn vị chiếm lĩnh trận địa thì bị lộ, địch bắn dữ dội, hai trung đội bị lạc, Nguyễn Minh Chữ tìm đưa bộ phận bị lạc về đội hình chiến đấu. Trận đánh kết thúc, địch bắn pháo vào trận địa, Nguyễn Minh Chữ ở lại tìm kiếm, cứu chữa và đưa 4 thương binh về đơn vị.

Phối hợp với quân ngụy Sài Gòn và dưới sự chỉ huy của Mỹ, chính quyền Lon Non ở Campuchia tăng cường lực lượng xuống gần vùng biên giới, xây dựng Chi Pu làm bàn đạp cho cơ giới và pháo binh tiến đánh các căn cứ của ta. Kiên quyết đánh bại âm mưu và thủ đoạn nham hiểm của địch, tại sở chỉ huy Sư đoàn phía trước, Chính uỷ Nguyễn Văn Quảng cùng hai đồng chí Tư lệnh phó Sư đoàn Nguyễn Thới Bưng và Trương Văn Đàng đã thống nhất với Tỉnh ủy Tây Ninh mở mặt trận tiến công mới dọc theo quốc lộ 1. Tiếp đó, phối hợp với nhân dân Bạn giải phóng Kom-chai-mia, Công Pông Trạch.

Thực hiện nhiệm vụ Bộ Tư lệnh Sư đoàn giao, ngày 13 tháng 4 năm 1970, Trung đoàn 1 nổ súng đánh chiếm Chi Pu, diệt 260 tên (có 2 tên cố vấn Mỹ), phá huỷ 19 xe quân sự, thu 110 súng, giải phóng hoàn toàn thị trấn Chi Pu. Cũng trong ngày 13 tháng 4, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 1) tiến công diệt đồn Mộc Bài, làm chủ một đoạn đường số 1 (Sài Gòn-Phnôm Pênh) dài 20 ki-lô-mét. Ngày 15 tháng 4, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 3) dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Vận, tiến công tiêu diệt một cụm quân Mỹ ở Tầm Te (Trảng Tròn) tây bắc Gò Lò, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên, phá huỷ 3 khẩu pháo và 3 xe quân sự, bắn rơi 2 máy bay. Ngày 16 tháng 4, Tiểu đoàn 7 tiếp tục tập kích Tà Xia lần thứ hai diệt 300 tên Mỹ thuộc sư đoàn 25 bộ binh cơ giới Mỹ, thu nhiều vũ khí. Đêm 16 tháng 4 năm 1970, Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 2) dưới sự chỉ huy trực tiếp của Phó Chính uỷ Di Thiện Tích, tiến công tiêu diệt đồn Kara Pao, loại khỏi vòng chiến đấu một tiểu đoàn quân Lon Non. Gần 300 khẩu súng và một số khí tài, phương tiện chiến tranh thu được của địch trong trận đánh, trung đoàn đã tổ chức bàn giao cho Bạn. Quá trình chiến đấu xuất hiện nhiều gương chiến đấu dũng cảm, tiêu biểu là y tá Nguyễn Minh Chữ. Trong tình huống bị hoả điểm địch ngăn chặn, chiến sĩ bắn B40 bị thương, sau khi băng bó cho đồng đội, Nguyễn Minh Chữ sử dụng ngay khẩu B40 của chiến sĩ vừa bị thương dập tắt hoả điểm địch, tạo điều kiện cho đơn vị phát triển thuận lợi. Sau trận đánh, Nguyến Minh Chữ đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba.

Phát triển tiến công liên tiếp ngày 26 tháng 4, Trung đoàn 2 tiến công tiêu diệt 2 tiểu đoàn quân ngụy Lon Non ở Chóp và Pra Sốt. Ngày 27 tháng 4, Tiểu đoàn 2 và 3 của Trung đoàn 1 tiến công chi khu quân sự Chót, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên ngụy Lon Non, thu 270 súng các loại. Trong khi đó Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3 phối hợp với nhân dân và lực lượng vũ trang bạn tiêu diệt và đánh tan rã hàng loạt quân ngụy Lon Non mở rộng vùng giải phóng cho Bạn ở phía đông các tỉnh Prây Veng, Kông Pông Chàm, suốt từ biên giới tới thị xã Prây Veng, thị xã Kông Pông Chàm và bắc đường số 7, giúp Bạn thành lập chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng.

Nhìn chung hoạt động của Sư đoàn trong thời gian từ sau khi Mỹ đảo chính ở Campuchia đến cuối tháng 4 năm 1970, đã góp phần bảo vệ địa bàn, kho tàng, mở rộng vùng giải phóng của ta, đập tan ý đồ củng cố và tăng cường vị trí bàn đạp của quân ngụy Sài Gòn ở dọc biên giới, bước đầu làm thất bại âm mưu cấu kết giữa Mỹ, ngụy Sài Gòn và ngụy Lon Non để đẩy lực lượng ta ra khỏi khu vực biên giới. Đây là thắng lợi rất quan trọng, tạo điều kiện cho quân và dân hai nước đánh bại các bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ.                

Để tạo điều kiện vực dậy chính quyền và quân đội Lon Non; đồng thời để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Campuchia; thực hiện “bước quyết định” trong chiến lược “Việt Nam hoá” chiến tranh mà mục tiêu là diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, tiêu diệt các đơn vị chủ lực Miền, triệt phá các căn cứ hậu cần của ta trên đất Bạn. Ngày 29 tháng 4 năm 1970, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn huy động gần 40 phần trăm lực lượng chiến đấu trên chiến trường, gồm 2 sư đoàn quân Mỹ (Kỵ binh bay và Tia chớp nhiệt đới), 6 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn dù và lính thuỷ đánh bộ thuộc lực lượng dự bị chiến lược, 5 liên đoàn biệt động quân của ngụy Sài Gòn mở cuộc tiến công xâm lược Campuchia.

Thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, các lực lượng vũ trang ta trên chiến trường đã phối hợp chặt chẽ với nhân dân và các lực lượng vũ trang Bạn, chủ động, đánh nhanh, đánh mạnh, đánh liên tục, kiên quyết đập tan cuộc tiến công xâm lược của địch.

Trong những ngày từ 29 tháng 4 đến 11 tháng 5 năm 1970, Trung đoàn 1 phối hợp với Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3 chặn đánh quyết liệt, không cho các chiến đoàn 225, 318, 333 thuộc quân đoàn 3 ngụy Sài Gòn càn quét khu vực nam và bắc quốc lộ 1 (khu vực Ba Thu, Bà Hút, Bố Bà Tây) nhằm triệt phá kho tàng của ta, giành lại các thị trấn Chi Phu, Pra Sốt, Chót, Công Pông Trạch thuộc tỉnh Xvây-riêng. Không thực hiện được ý định chiếm lại Chót, địch điều chiến đoàn 318 sang phía tây thị trấn, tiến về Công Pông Trạch nhưng cũng bị Trung đoàn 1 đánh thiệt hại nặng ở Cram-ka, Tà Y, Chôm Nây Xa.

Ngày 9 tháng 5, Trung đoàn 2 do Trung đoàn trưởng Tạ Quang Tỷ trực tiếp chỉ huy nổ súng tiến công diệt và làm tan rã một lữ đoàn quân Lon Non, giải phóng Suông, Chúp, làm chủ đoạn đường số 7, một trong những con đường có vị trí chiến lược ở đông bắc Campuchia. Trong khi đó, một đoàn giang thuyền gồm 37 chiếc của địch từ Bến Sỏi (Tây Ninh) theo rạch Trảng Tràm tiến lên Kông Pông Trạch với ý định hợp điểm với chiến đoàn 318, nhưng chúng đã bị phân đội công binh của Trung đoàn 3 phục kích, bắn chìm, bắn cháy 7 chiếc. Số tàu còn lại buộc phải quay về Bến Sỏi. Lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn 25 bộ binh cơ giới Mỹ trong quá trình tiến công đã bị Trung đoàn 3 và các đơn vị binh chủng của Sư đoàn chặn đánh liên tục ở khu vực Lò Gò, Trảng Trâu, Tà Súa, Tà Săng. Tính từ ngày 6 đến ngày 14 tháng 5, lữ đoàn 1 Mỹ đã bị các đơn vị trong Sư đoàn diệt và làm bị thương 400 tên, bắn rơi 17 máy bay, phá hủy 28 xe bọc thép, bốn khẩu pháo 105. Từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 6 năm 1970, Trung đoàn 2 được tăng cường Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 1, một đại đội của Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 3), tổ chức trận đánh vào thị xã Prây Veng, nhưng không dứt điểm, bộ đội bị thương vong cao. Một trong những nguyên nhân là một số cán bộ không quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, chủ quan, đánh giá địch thấp, cho rằng quân ngụy Lon Non và ngụy Sài Gòn chỉ có công sự gỗ, đất sơ sài.... Bên cạnh đó, thông tin liên lạc bị gián đoạn, mất chỉ huy, có đơn vị tự động lui quân hoặc bám trụ ở địa hình trống trải, bị cô lập... Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ đạo Đảng ủy, Ban Chỉ huy và cán bộ các cấp Trung đoàn 2õ nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm hai trận đánh không thành công. Đây là một yêu cầu khách quan, đòi hỏi trung đoàn phải nâng cao sức mạnh chiến đấu, công tác tổ chức chỉ huy và bảo đảm lên một trình độ mới. Chỉ có như vậy mới có thể đánh vào các thị xã, thị trấn, vừa tiêu diệt địch, vừa giải phóng đất đai trong giai đoạn cuối của chiến tranh.

Đợt 1 chiến dịch phản công của Mỹ và ngụy Sài Gòn xâm lược Campuchia, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo vệ được lực lượng, kho tàng, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn ở hai tỉnh Prây Veng, Kông Pông Chàm áp sát sông Mê Kông, làm chủ đoạn đường 7 suốt từ thị xã Kông Pông Chàm dài trên 30 ki-lô-mét. Hậu phương trực tiếp của chiến trường B2 được mở rộng rất lớn.

Ngày 20 tháng 5 năm 1970, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn mở đợt tiến công mới sâu hơn vào đất Campuchia. Chiến đoàn 333 tiến theo đường số 7, chiến đoàn 318 theo đường số 1 lên giải toả áp lực của ta ở Prây Veng, rồi theo đường số 15 lên Chúp.

Chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh của cấp trên, Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã triển khai nhiệm vụ cho các đơn vị, cơ động lực lượng và tổ chức chiến đấu nhanh, nhằm đúng đối tượng là quân ngụy Sài Gòn, phản công đánh hai trận lớn ở Prây Veng (15-6-1970) và Bình Cheng (ngày 25 tháng 6 năm 1970) và một số trận khác ở Tô Tịa, Xoài An Tô, phum Bà Rài, Prây Xa Năng, Bung Băng. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 3.000 tên địch, phá hủy 174 xe quân sự (có 146 xe tăng và xe bọc thép), đánh thiệt hại nặng một số tiểu đoàn, chiến đoàn quân ngụy Sài Gòn và ngụy Lon Non. Chiến đoàn 318 ngụy Sài Gòn bị thương vong trên 800 tên, 50 xe tăng và xe bọc thép bị phá hủy. Ngày 4 tháng 6 năm 1970, địch phải rút hai chiến đoàn 318 và 333 về Tây Ninh. Ý đồ địch giành quyền kiểm soát đường số 7 và chiếm lại Chúp, Suông đã thất bại. Cùng với các đơn vị bạn trong khối chủ lực Miền và được sự phối hợp chiến đấu của quân và dân nước Bạn, Sư đoàn đã góp phần giải phóng vùng nông thôn rộng lớn giáp liền nhau thuộc bốn tỉnh Soài Riêng, Prây Veng, Kông Pông Chàm, Kan Đan. Cùng với nhiệm vụ chiến đấu, Sư đoàn đã giúp Bạn tổ chức trang bị và huấn luyện ba tiểu đoàn bộ binh với tổng số quân là 2.082 người; thành lập nhiều đội vũ trang và mở lớp huấn luyện cho 1.049 dân quân ở các phum, sóc. Thực hiện chức năng đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đi xuống từng phum, sóc, cùng nhân dân Bạn dựng lại nhà ở, ra đồng gặt lúa, đào hầm tránh máy bay, cắt tóc cho trẻ em, người lớn, mở lớp đào tạo ý tá, cứu thương, cùng với Bạn tổ chức chính quyền nhân dân, xây dựng cuộc sống mới. Nhân dân Campuchia coi bộ đội Việt Nam như con em của mình. Ở đâu cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn cũng được nhân dân tận tình giúp đỡ, phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động và chiến đấu.

Đảng ủy Sư đoàn họp ngày 4 và 5 tháng 7 năm 1970, đã đánh giá “Trong tình hình đột biến, với cường độ lao động rất cao và liên tục chiến đấu trong điều kiện khó khăn, gian khổ, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã phấn đấu vượt tất cả các chỉ tiêu do Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền đề ra về tiêu diệt sinh lực địch, phá huỷ phương tiện chiến tranh, giải phóng địa bàn, trong đó có một số chi khu, thị xã, thị trấn; về kìm giữ và thu hút địch. Đặc biệt, Sư đoàn đã góp phần củng cố và xây dựng chính quyền, phát triển du kích, xây dựng lực lượng vũ trang của Bạn, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu giữa quân và dân hai nước, tạo thế phát triển lâu dài cho cách mạng Campuchia. Đây là bước trưởng thành, tiến bộ mới về tư tưởng và tác phong của bộ đội”. Đảng ủy Sư đoàn cũng chỉ rõ “khâu yếu kéo dài là lãnh đạo các cấp chưa quán triệt tư tưởng đánh tiêu diệt. Tác động của các hoạt động chiến đấu của Sư đoàn trên chiến trường là do tác chiến liên tục, do hiệu suất của nhiều trận đánh dồn dập, quy mô vừa và nhỏ chứ không phải do một trận đánh lớn”.

Tháng 8 năm 1970, Sư đoàn tổ chức hội nghị tổng kết chiến dịch đã phân tích, đánh giá chỗ mạnh, chỗ yếu của địch. Mặc dù được Mỹ chi viện, quân ngụy Sài Gòn vẫn có những hạn chế do hành quân sâu vào đất Campuchia, xa hậu phương, phi pháo hạn chế, công sự mỏng, yếu... Đây là thời cơ để ta có thể tập trung đánh lớn, diệt từng cánh, từng cụm hai đến ba tiểu đoàn địch trong một trận đánh, có thể vận dụng cách đánh gấp, đánh bồi, mạnh dạn xuất kích đánh ban ngày... Thực tế chiến đấu cho thấy chiến trường phát triển về tổ chức và tổ chức lực lượng của địch là bộ binh và cơ giới hỗn hợp. Muốn đánh địch, cần phải nghiên cứu, bổ sung trang bị cho thích hợp với chiến trường, đặc biệt là súng và mìn chống tăng, khí tài thông tin nhằm bảo đảm chỉ huy và hiệp đồng trong đánh lớn, dài ngày. Trong những chiến dịch, đợt hoạt động như vậy, việc củng cố tổ chức, nâng cao trình độ tác chiến của bộ đội có ý nghĩa quyết định.

Kết quả chiến đấu trong Xuân Hè năm 1970, Sư đoàn và các trung đoàn đã có bước tiến bộ mới về khả năng chiến đấu. Trung đoàn có khả năng diệt một tiểu đoàn hoặc một cụm tương đương trong một trận đánh, Sư đoàn có khả năng tập trung một trung đoàn tăng cường hoặc hai trung đoàn trên một khu vực quyết chiến điểm của chiến dịch để tiêu diệt từ hai đến ba tiểu đoàn địch trong trận đánh vào căn cứ hành quân mới được thiết lập hoặc một cánh quân địch; có khả năng tham gia các chiến dịch trong đội hình cấp trên hoặc độc lập tác chiến trên hướng chủ yếu hay thứ yếu của chiến dịch. Sau hội nghị tổng kết, Sư đoàn mở liên tục sáu lớp tập huấn cho 410 cán bộ các cấp trong toàn Sư đoàn về nội dung đã được tổng kết. Đồng thời tổ chức các lớp học tập chính trị và huấn luyện quân sự cho các đơn vị.

Để bổ sung quân số tiêu hao trong chiến đấu, trong năm 1970, Sư đoàn và các trung đoàn đã củng cố các “khung huấn luyện” mở lớp bồi dưỡng tại chức cho 4.526 lượt cán bộ từ tiểu đội trưởng đến trung đoàn trưởng. Trường huấn luyện cán bộ trung đội của Sư đoàn mở bốn khoá, đào tạo 455 cán bộ (có 136 cán bộ pháo binh), 5 khoá cho 109 cán bộ đặc công. Các đại đội huấn luyện của ba trung đoàn mở được bốn khoá đào tạo 132 tiểu đội trưởng. Căn cứ vào biên chế cơ bản do Bộ Tư lệnh Miền quy định và được bổ sung 204 cán bộ trung cấp, sơ cấp do Miền đào tạo, Sư đoàn đã từng bước chấn chỉnh tổ chức các đơn vị, đặc biệt là các tiểu đoàn bộ binh và các đơn vị binh chủng. Năm 1970, Sư đoàn tổ chức thêm hai đại đội đặc công cho hai Trung đoàn 1, 2, một đại đội công binh, tiểu đoàn quân y của Sư đoàn và một tiểu đoàn bộ binh thay cho Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 2) được Bộ Tư lệnh Miền điều động đi nhận nhiệm vụ mới.

Hoạt động trên chiến trường mới, chống lại âm mưu và hành động phản kích quyết liệt và trên nhiều mặt rất phức tạp của địch trong chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, Đảng ủy Sư đoàn và các cấp đã thường xuyên giáo dục bộ đội ý thức cảnh giác cách mạng, chống chiến tranh tâm lý, chiêu hồi của địch, hạn chế thương vong ngoài chiến đấu, giảm đến mức thấp nhất số quân nhân đào ngũ... Theo hướng dẫn của Cục Chính trị Miền, Sư đoàn đã mở cuộc vận động “cảnh giác chống địch, phòng gian, giữ bí mật”; cuộc vận động “Quản lý quân số, trang bị, tài sản, tài chính, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô”; cuộc vận động “đề cao kỷ luật, rèn luyện tác phong”... Các mặt công tác bảo đảm cho xây dựng và chiến đấu như nắm địch, nắm ta, chuẩn bị vũ khí, đạn, sơ cứu thương binh... được các đơn vị thực hiện với tinh thần chủ động, tự lực khắc phục khó khăn, sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu mới của nhiệm vụ chiến đấu.

Những tháng đầu mùa khô năm 1970-1971, theo kế hoạch chiến đấu đã được Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền thông qua, Bộ Tư lệnh Sư đoàn sử dụng một bộ phận lực lượng chặn đánh các cuộc hành quân của địch ở các khu vực Cham Tung, Pra Thiếc, Kha Na, gây cho địch một số thiệt hại, đánh bại âm mưu giành lại quyền kiểm soát đường số 7 của chúng.

Tháng 8 năm 1970, do yêu cầu của chiến trường đồng chí Lê Văn Nhỏ về Khu 8 nhận công tác mới. Đồng chí Nguyễn Thới Bưng, Tư lệnh phó được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn; đồng chí Tạ Quang Tỷ được bổ nhiệm làm Tư lệnh phó.

Cuối tháng 11 năm 1970, Trung đoàn 2 được Sư đoàn giao nhiệm vụ tác chiến ở khu vực đường 22, đánh quân ngụy Lon Non ở Piêm Chi Căng, Rùm Luông và Prây xtung.

Là một thị trấn quan trọng thuộc tỉnh Công Pông Chàm, Piêm Chi Căng do ba tiểu đoàn quân ngụy Lon Non bảo vệ, dựa vào chướng ngại thiên nhiên là sông Mê Kông và một nhánh khác bao bọc ba phía, quân địch tổ chức công sự gỗ đất phòng thủ khá vững chắc. Từ vị trí xuất phát, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 2 do Trung đoàn trưởng Di Thiện Tích và Chính uỷ Võ Văn Nhâm chỉ huy hành quân liên tục 4 ngày đêm, tổ chức vượt sông an toàn, bí mật đưa các lực lượng áp sát, bao vây và nổ súng tiến công các vị trí địch trong thị trấn. Cuộc chiến đấu diệt các cứ điểm vòng ngoài kéo dài 3 ngày đêm. Bị ta đánh mạnh, lực lượng còn lại của địch bỏ chạy vào bên trong thị trấn làm rối loạn chỉ huy. Chớp thời cơ thuận lợi, các mũi tiến công của trung đoàn nhanh chóng thọc sâu, diệt các cứ điểm còn lại, tiêu diệt và làm tan rã ba tiểu đoàn địch, bắt gần 500 tên, thu 1.500 khẩu súng các loại và 40 tấn đạn. Thị trấn Piêm Chi Căng với trên 10.000 dân được giải phóng. Đây là một trong những trận thắng giòn giã, tiêu diệt nhiều địch, bắt tù binh, thu nhiều vũ khí. Với chiến thắng này, Trung đoàn 2 được tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì. Chiến công của Trung đoàn 2 đã cổ vũ tinh thần chiến đấu, củng cố niềm tin vào khả năng đánh lớn, đánh tiêu diệt trong cán bộ, chiến sĩ toàn Sư đoàn.

Có thể nói, đến cuối năm 1970, với thắng lợi trong chiến dịch Xuân Hè và kết quả củng cố tổ chức, huấn luyện bộ đội, tổng kết rút kinh nghiệm, Sư đoàn đã bước đầu vượt qua những khó khăn, tổn thất trong năm 1968, vẫn trụ vững và phát huy vai trò bộ đội chủ lực, cùng các đơn vị bạn tạo ra thế mới, lực mới, phát triển tiến công địch ở một chiến trường mới có nhiều thuận lợi cho ta. Đồng thời, Sư đoàn cũng từng bước củng cố lực lượng, nâng cao sức mạnh chiến đấu, tạo ra những khả năng mới của một Sư đoàn chủ lực cơ động trong khối chủ lực Miền.

2. Tham gia chiến dịch phản công Xuân Hè - 1971, góp phần đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” của quân ngụy Sài Gòn

Để chuẩn bị cho hoạt động mùa khô 1970-1971, từ tháng 7 năm 1970, Mỹ - ngụy bắt đầu tập trung hầu hết lực lượng địa phương và một bộ phận chủ lực thực hiện kế hoạch “bình định đặc biệt”, tiếp sau đó là “bình định bổ sung”, gây nhiều khó khăn cho các hoạt động của ta trên chiến trường miền Nam. Lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng cơ động của các quân khu ráo riết chuẩn bị mở những cuộc hành quân lớn.       

Ngày 30 tháng 1 năm 1971, trên 30.000 quân ngụy Sài Gòn do Mỹ chỉ huy, yểm trợ mạnh về hoả lực, bảo đảm cơ động và hậu cần... mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, đánh ra khu vực đường 9 - Nam Lào. Bốn ngày sau, ngày 4 tháng 2 năm 1971, toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 3 ngụy Sài Gòn gồm: 3 sư đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân, 5 thiết đoàn xe tăng, xe bọc thép (450 xe), 4 trung đoàn và 8 tiểu đoàn pháo (160 khẩu) cùng nhiều đơn vị binh chủng khác; quân số khoảng 23.000 tên, do Mỹ chỉ huy và được 15 phi đoàn (262 chiếc) máy bay Mỹ yểm trợ, mở cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” đánh sang vùng đông bắc Campuchia. Đây là hai cuộc hành quân lớn nhất, điển hình của chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Ý đồ của địch nhằm tìm diệt lực lượng chủ lực Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, phá hủy kho tàng, căn cứ cách mạng, giải tỏa đường 7 và lập phòng tuyến ngăn chặn hành lang kháng chiến ở khu vực đông bắc Campuchia. Lực lượng địch tham gia gồm: Quân đội Sài Gòn có 34 tiểu đoàn bộ binh, 5 trung đoàn thiết giáp, 8 tiểu đoàn pháo (thuộc các quân đoàn 2 và 3), tổ chức thành 9 chiến đoàn (khoảng 23.000 quân); quân đội Lon Non có 5 tiểu đoàn; Mỹ có 15 phi đoàn không quân.   

Đánh giá đúng âm mưu chiến lược và mục tiêu của địch trong hai cuộc hành quân, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương quyết định mở các chiến dịch phản công lớn đánh bại hai cuộc hành quân của địch.  

Ở chiến trường đông bắc Campuchia, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền nhận định: địch có chỗ mạnh tạm thời do quân đông, sử dụng nhiều cơ giới làm lực lượng đột kích, hoả lực mạnh. Nhưng quân viễn chinh Mỹ đang tiếp tục quá trình rút ra, lực lượng dự bị chiến lược của quân ngụy bị thu hút ra chiến trường đường 9 - Nam Lào. Các đơn vị chủ lực Miền đã có một thời gian củng cố, làm quen với chiến trường mới và đang triển khai lực lượng, sẵn sàng phản công địch. Do đó, đây là thời cơ để ta tiêu diệt quân chủ lực ngụy Sài Gòn trên chiến trường. Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền quyết định tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực cơ động mở chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” của địch; phối hợp với chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, hỗ trợ và thúc đẩy phong trào đánh phá bình định ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, diệt gọn từng tiểu đoàn bộ binh, chi đoàn cơ giới, không cho địch lấn chiếm đường 7, bảo vệ cơ quan, kho tàng của ta ở vùng biên giới.

Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 9 (thiếu Trung đoàn 1 đang hoạt động ở hướng lộ 22 khu vực Xa Mát, Trại Bí) được tăng cường Trung đoàn 174 (Sư đoàn 5), Trung đoàn 165 (Sư đoàn 7), do Tư lệnh Sư đoàn Nguyễn Thới Bưng và Chính uỷ Sư đoàn Nguyễn Văn Quảng chỉ huy, đảm nhiệm tiến công địch trên khu vực bắc đường số 7, Suông, Chúp.

Đợt 1 chiến dịch, ngày 4 tháng 2 năm 1971, trên hướng chủ yếu của cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71”, địch huy động 5 chiến đoàn bộ binh, một lữ đoàn bộ binh thiết giáp, một tiểu đoàn biệt động quân, 5 trung đoàn thiết giáp, 6 tiểu đoàn pháo binh, tiến theo trục đường số 7. Lợi dụng thời tiết mùa khô, địa hình bằng và phát huy sức mạnh đột kích của cơ giới vượt qua đồng trống, địch nhanh chóng chiếm Tô Tịa, dùng trực thăng đổ quân chiếm ngã ba Sở Nhật; đồng thời sử dụng một tiểu đoàn quân Lon Non chiếm cầu Míchk-mong; dùng lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp làm mũi vu hồi đánh lên phum Kô. Ý đồ của địch là nhanh chóng chiếm đường 7, vây diệt các đơn vị chủ lực ta ở Suông, Chúp, chiếm lại Đầm Be, đẩy chủ lực ta ra xa, phá cơ quan, kho tàng của ta, củng cố vị trí bàn đạp dọc theo đường số 7. Sau đó sẽ đánh lên Sơ Lông, phối hợp với các lực lượng trên hướng thứ yếu ở Snoul và toả ra đánh phá các căn cứ của ta ở hai bên đường số 2.

Đêm 5 tháng 2 năm 1971, được lệnh của Sư đoàn, Trung đoàn 2 do Trung đoàn trưởng Di Thiện Tích chỉ huy vận động tập kích cụm quân địch ở tây nam sân bay Chúp, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 36 biệt động quân, một chi đoàn xe thiết giáp ngụy. Địch buộc phải đưa lực lượng chủ yếu của chiến đoàn 333 và một trung đoàn thiết giáp lên sân bay Chúp để giải toả và thu dọn tổn thất. Đêm 6 tháng 2, Trung đoàn 2 phối hợp với Trung đoàn 3, vận động tập kích chiến đoàn bộ binh cơ giới 333 ở sân bay Chúp, diệt hơn 300 tên, phá hủy 30 xe quân sự. Quân địch phải bỏ sân bay Chúp tháo chạy. Các trận phủ đầu trên đã đánh mạnh vào tinh thần quân địch, bẻ gãy một gọng kìm, phá thế bao vây chiến dịch của chúng. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn động viên các đơn vị phát huy chiến thắng trận đầu, kiên quyết bám trụ địa bàn, đánh bại các cuộc tiến công tiếp theo của địch.

Từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 2, địch sử dụng các chiến đoàn 49, 50, 333 và liên đoàn 31 biệt động quân được không quân (có máy bay B52) Mỹ chi viện mạnh, chia làm ba hướng đánh vào sở cao su Chúp. Tư lệnh Sư đoàn quyết định, triển khai lực lượng Trung đoàn 2 ở phía tây, Trung đoàn 3 ở phía đông sở cao su Chúp. Đồng thời điều động Trung đoàn 1 đang ở Xa Mát, Trại Bí nhanh chóng cơ động về cùng tham gia trận đánh. Đêm ngày 8 rạng ngày 9 tháng 2, ba Trung đoàn 1, 2 và 3 đã phối hợp chặn đánh quân địch ở khu làng 612, làng Núi, diệt gần 2.000 tên địch, phá huỷ 20 xe bọc thép, bẻ gãy hướng tiến công chủ yếu của địch, buộc chúng phải lùi ra ngoài tháo chạy về phía đông Sở cao su Chúp.

Trước sức tiến công liên tiếp của ta, ngày 12 tháng 2, địch buộc phải điều chỉnh kế hoạch. Chúng chia lực lượng thành hai cánh, chiến đoàn 333 lên Tà Pao, phum Ca Đôn; lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp theo đường số 2 lên Đầm Be, ngã tư Nước Đá. Trên cả hai cánh, địch tiến quân dè dặt, dựa vào hoả lực phi pháo, kể cả máy bay B52 yểm trợ hành quân. Ban đêm chúng cụm lại giữa đồng trống để hạn chế ta tập kích. Từ ngày 12 đến ngày 16 tháng 2, hai Trung đoàn 2 và 3 liên tục vận động phục kích chiến đoàn 333 ngụy ở đông Tà Pao, nhưng địch đi giữa đồng trống, ta khó tiếp cận nên các trận đánh hiệu suất không cao. Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1971, Sư đoàn liên tiếp đánh 4 trận vận động phục kích và một số trận nhỏ khác, gây thiệt hại nặng cho các tiểu đoàn 31 và 36 biệt động quân, tiểu đoàn 1 và 3 chiến đoàn 50 ngụy.

Đợt 1 chiến dịch tiến công trên chiến trường đông bắc Campuchia kết thúc. Cùng với các đơn vị trong khối chủ lực Miền, Sư đoàn đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, hoàn thành nhiệm vụ trên hướng tác chiến chủ yếu. Tuy nhiên, diễn biến những ngày chiến đấu đầu tiên cho thấy địch đã tập trung lực lượng cỡ lữ đoàn và nhiều chiến đoàn trên một hướng. Ta cũng đã  tập trung hai Sư đoàn 7 và 9 vào một khu vực tác chiến. Nhưng do ta không có một cơ quan chỉ huy thống nhất và hiệp đồng giữa các lực lượng, nên các đơn vị đứng ở chỗ nào đánh ở chỗ đó, không theo một ý định chung. Kết quả là không ngăn chặn được địch, không có trận nào diệt gọn được tiểu đoàn bộ binh và chi đoàn thiết giáp địch.

Từ tình hình trên, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã kịp thời rút kinh nghiệm và ngay tại chiến trường, ngày 18 tháng 3 năm 1971 quyết định thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Miền, mật danh là Đoàn 301. Đồng chí Trần Văn Trà làm Tư lệnh; các đồng chí Hoàng Cầm, Lê Ngọc Hiền, Trần Độ, Trần Văn Phác được cử vào Bộ Chỉ huy. Lực lượng do Đoàn 301 trực tiếp chỉ huy có ba Sư đoàn 9, 7, 5, Trung đoàn pháo binh 28, Tiểu đoàn súng máy phòng không 12 và nhiều đơn vị binh chủng, phục vụ khác. Lần đầu tiên trên chiến truờng Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, do yêu cầu của cuộc chiến đấu, một cơ quan chỉ huy cấp Quân đoàn đã được thành lập. Đây là kết quả của quá trình xây dựng trong nhiều năm của bộ đội chủ lực Miền, từ những chiến dịch tác chiến tập trung nhiều trung đoàn (Bình Giã, Đồng Xoài) đến những đợt hoạt động có sự tham gia của hai, ba sư đoàn (chiến dịch Lộc Ninh - đường 13 năm 1967, chiến dịch Tây Ninh - Bình Long năm 1968...).       

Mặc dù tập trung lực lượng lớn nhưng không diệt được chủ lực của ta ở Suông, Chúp, bước vào đợt 2 chiến dịch, địch tập trung nỗ lực cuối cùng đánh lên Đầm Be, Sa Lông theo lộ 2 Tà Thiết. Ở đợt 2 này, Bộ Chỉ huy Đoàn 301 quyết định chọn đường số 7 là hướng tiến công chính, tập trung 2 Sư đoàn 7 và 9 vận động bao vây, đón lõng và tiến công tiêu diệt lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp ngụy, đánh bại chiến thuật sử dụng cơ giới tập trung trên địa hình đồng trống của chúng. Thực hiện ý định của trên, ngày 16 tháng 3 năm 1971, khi lữ đoàn 3 và chiến đoàn 48 địch chia thành hai cánh đánh vào Sở Cao su Chúp, Tư lệnh Sư đoàn Nguyễn Thới Bưng lệnh cho Trung đoàn 2 gấp rút cơ động từ Tà Pao về làm nhiệm vụ ngăn chặn mũi tiến công của lữ đoàn 3, tạo điều kiện cho Trung đoàn 1 bao vây và vận động tiến công chiến đoàn 48 ở Sở cao su Chúp. Kết quả trận đánh, chiến đoàn 48 ngụy bị thiệt hại nặng phải lui về Krêch để củng cố. Từ ngày 24 đến ngày 29 tháng 3, Sư đoàn phối hợp với các đơn vị bạn, tổ chức bao vây và phản công lữ đoàn 3 kỵ binh thiết giáp và chiến đoàn 5 ngụy ở nam đường 7, đánh trận quyết chiến chiến dịch ở khu vực Tô Tịa, Mông Rêu, làm thất bại ý đồ chiếm lại đường số 7 của địch.

Đợt 3 chiến dịch, từ tháng 4 đến đầu tháng 6 năm 1971, phát hiện quân địch co cụm để tránh bị tiêu diệt, Bộ Chỉ huy Đoàn 301 quyết định đẩy mạnh tiến công, đẩy địch về hình thái trước mùa khô, tiếp tục thu hút và kiềm chế một bộ phận lực lượng chủ lực cơ động của quân ngụy Sài Gòn, tạo điều kiện cho quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đánh phá bình định, giúp Bạn củng cố và mở rộng vùng giải phóng. Trong đợt hoạt động này, Sư đoàn (thiếu Trung đoàn 1) chiến đấu trên hướng phối hợp, đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn quân ngụy Sài Gòn, 8 tiểu đoàn quân Lon Non ở khu vực Bầu Diều (tỉnh Prây Veng), đẩy lùi âm mưu lấn chiếm của địch, mở rộng vùng giải phóng cho bạn, giúp bạn phát triển cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang, củng cố thế bố trí lực lượng của ta trên tuyến sông Mê Kông. Trong khi đó, Trung đoàn 1 liên tục phối hợp với Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7), tiến công ngăn chặn không cho chiến đoàn 8 ngụy Sài Gòn ở Snun đưa quân lên Suông, Chúp.     

Cuối tháng 6 năm 1971, chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” của Mỹ và ngụy Sài Gòn trên chiến trường đông bắc Campuchia kết thúc. Ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 25.000 tên địch (có 6.000 quân ngụy Lon Non), diệt một chiến đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, đánh thiệt hại 5 chiến đoàn khác, phá hủy 1.500 xe quân sự (có 36 xe tăng, xe bọc thép), 157 khẩu pháo, bắn rơi 238 máy bay. Riêng Sư đoàn đã đánh 806 trận, diệt 4 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp của quân ngụy Sài Gòn, 7 tiểu đoàn quân ngụy Lon Non, phá huỷ nhiều vũ khí phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ được cơ quan, kho tàng, căn cứ hậu phương trên khu vực được phân công.

Là một trong những lực lượng tác chiến chủ yếu, đảm nhận hướng chính của chiến dịch trong một số trận đánh lớn, Sư đoàn đã đánh hàng trăm trận, loại khỏi vòng chiến đấu hàng ngàn tên, phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ được cơ quan, kho tàng, căn cứ hậu phương trên khu vực được phân công. Sư đoàn đã trực tiếp giải phóng nhiều vùng rộng lớn, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, vũ trang của Bạn, giúp đỡ bộ đội tập trung của Bạn trưởng thành trong chiến đấu. Các đơn vị và cơ quan Sư đoàn được rèn luyện và trưởng thành lên một bước về trình độ tác chiến tập trung, hiệp đồng trong đội hình chiến dịch, nâng cao khả năng cơ động, đánh liên tục, đánh ban ngày ở địa hình đồng bằng trống trải.

3. Đánh bại cuộc hành quân “Chen-la 2” của quân ngụy Lon Non vào Côngpông Thom (Campuchia)

Từ mùa Hè năm 1971, một cục diện mới đã xuất hiện trên chiến trường ba nước Đông Dương. Qua hai cuộc hành quân “Lam Sơn 719” ở đường 9 - Nam Lào và “Toàn thắng 1-71” ở đông bắc Campuchia bị thất bại nặng nề. Rõ ràng quân ngụy Sài Gòn dù được Mỹ tăng cường trang bị, nâng cao sức cơ động và yểm trợ tối đa về hoả lực, đã không đảm đương đựơc vai trò cơ động trên các chiến trường ba nước Đông Dương như Mỹ mong muốn. Vì vậy, bên cạnh việc tiếp tục hiện đại hoá quân ngụy Sài Gòn, Mỹ ra sức phát triển mạnh về số lượng và nâng cao khả năng tác chiến của quân ngụy Lào và quân ngụy Lon Non. Tại Campuchia, trong thời gian hơn một năm chúng đưa số quân ngụy Lon Non lên đến 170.000 tên, tổ chức thành 63 lữ đoàn với 305 tiểu đoàn chiến đấu.

Ngày 20 tháng 8 năm 1971, quân ngụy Lon Non dưới sự chỉ huy của sĩ quan cố vấn Mỹ, được không quân Mỹ yểm trợ mở cuộc hành quân “Chen la-2” vào Côngpông Thom (Campuchia). Mục tiêu chính của cuộc hành quân nhằm thử thách khả năng chiến đấu của quân Lon Non, nối lại đường số 6 từ Tăng Cốc đến Công Pông Thom, cắt đứt đường hành lang của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam từ đông sang tây. Lực lượng địch tham gia cuộc hành quân gồm: 15 lữ đoàn quân Lon Non với hơn 70 tiểu đoàn bộ binh, một số đơn vị pháo binh, xe bọc thép, tàu chiến. Tướng Mỹ Mac Ken trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân, sử dụng không quân kể cả B52 yểm trợ hoả lực cho quân ngụy Lon Non, quyết giành thắng lợi cho cuộc hành quân mà chúng coi là điển hình của chương trình “Khơ-me hoá chiến tranh”. Từ ngày 20 tháng 8 đến ngày 26 tháng 10, lực lượng tại chỗ của ta và lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã liên tục chặn đánh tiêu hao, tiêu diệt một số sinh lực và phương tiện của địch.

Ngày 1 tháng 10 năm 1971, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch phản công trên đường số 6 nhằm đánh bại cuộc hành quân “Chen-la 2” của địch.

Lực lượng ta tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn 9, các Trung đoàn bộ binh 205, 207, 201, 203, Tiểu đoàn 32, Tiểu đoàn pháo binh 22 của C40. Lực lượng Bạn có hai tiểu đoàn và một số đại đội bộ đội địa phương tỉnh, du kích các phum.

Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm có: đồng chí Đồng Văn Cống làm Tư lệnh, đồng chí Lê Văn Tưởng làm Chính uỷ, đồng chí Lê Ngọc Hiền làm Phó Tư lệnh.

Địa bàn chiến dịch chủ yếu ở khu vực đường số 6 từ Sa Kông Kom, Săng Túc, Kông Pông Thom. Đây là khu vực địa hình đồng bằng tương đối trống trải, ruộng nước xen kẽ rừng cao su, rừng già. Dân cư trong khu vực sống tập trung thành từng cụm, ở các phum xung quanh các thị trấn. Thời tiết lúc này đang cuối mùa mưa nên việc cơ động gặp nhiều khó khăn.

Đêm 27 tháng 10 năm 1971, Tư lệnh Sư đoàn Nguyễn Thới Bưng lệnh cho các đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công các cứ điểm trên tuyến phòng thủ đường số 6 của địch. Trung đoàn 2, do Trung đoàn trưởng Di Thiện Tích và Chính ủy Võ Văn Nhâm chỉ huy tiêu diệt tiểu đoàn 377 quân ngụy Lon Non ở phum Đa, chia cắt đội hình hành quân của địch ở phía bắc (đoạn Ba Rài đến Rùm Luông) và vây ép lữ đoàn 46 địch. Trung đoàn 3 do Trung đoàn trưởng Phạm Kim và Chính ủy Lê Chư chỉ huy tiến công cứ điểm An Đông Pô, chia cắt đội hình hành quân của địch ở phía nam (đoạn Kreul đến Rùm Luông. Trung đoàn 1 do Trung đoàn trưởng Quách Mười và Chính ủy Trần Văn Thiệt chỉ huy vây ép lữ đoàn 61 ở Krianđét. Bị ta đánh mạnh, đồng loạt và bất ngờ, đội hình hành quân của địch bị cắt làm ba đoạn, nhiều đơn vị bị mất chỉ huy, đối phó lúng túng. Mỹ buộc phải huy động không quân (60 đến 70 lần chiếc/ngày) chi viện hoả lực hòng ngăn chặn đội hình tiến công của ta và lệnh cho ngụy quyền Lon Non phải đưa thêm lực lượng từ phía sau lên giải tỏa. Đại đội 1 Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1) làm nhiệm vụ chốt chặn phía nam Rùm Luông; Đại đội 1 Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 2) chốt chặn phía bắc Rùm Luông. Giữa cánh đồng nước trống trải, công sự sơ sài, nhưng cả hai đơn vị kiên cường trụ bám dưới hoả lực bom pháo ác liệt, đánh lui hàng chục đợt phản kích của lữ đoàn 48, 25 và 20 thuộc lực lượng dự bị cơ động của quân ngụy Lon Non khi chúng lên giải toả. Từ đêm 27 tháng 10, Trung đoàn 1 sử dụng Tiểu đoàn 3 và hỏa lực thực hiện vây lấn, tấn, triệt, diệt, bao vây cô lập lữ đoàn 61 địch ở Kari an-đét, gây cho chúng nhiều thương vong. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, đến 8 giờ ngày 9 tháng 11 chúng mở đường tháo chạy về hướng Rùm Luông, bị Tiểu đoàn 1 và 2 vận động bao vây tiến công tiêu diệt gọn. Tiếp những ngày sau đó lữ đoàn 46  địch đóng ở Rùm Luông cũng bị Trung đoàn 2 và 3 tiến công đánh thiệt hại nặng, số còn lại bỏ chạy bị Trung đoàn 2 và 3 truy đánh, diệt nhiều tên, bắt gần 1.000 tên, thu toàn bộ xe pháo ở Rùm Luông. Sáng ngày 1 tháng 12, Trung đoàn 2 được tăng cường Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1), từ vị trí bàn đạp, đồng loạt nổ súng đánh chiếm các vị trí tiền tiêu và thọc sâu diệt sở chỉ huy hành quân “Chen la-2”. 13 giờ ngày 1 tháng 12, ta giải phóng Bà Rài.     

Ở Công Pông Thom, ta thắt chặt vòng vây, chặn các ngả đường rút chạy của binh đoàn 1 xung kích. 17 giờ ngày 1 tháng 12, địch cho một tiểu đoàn tiến ra theo đường số 6 nhằm nghi binh, đánh lạc hướng ta; đồng thời sử dụng hỏa lực pháo binh và không quân đánh mạnh vào khu vực bắc cầu Công Pông Thmo đến Tăng Ta Xăng để mở đường máu tháo chạy. Tư lệnh Sư đoàn Nguyễn Thới Bưng lệnh cho Trung đoàn 3 nhanh chóng thọc sâu, đánh chiếm sở chỉ huy địch, giải phóng hoàn toàn Công Pông Thom lúc 20 giờ cùng ngày. Do địch phá sập cầu, ta phải tổ chức vượt sông, tốc độ truy kích chậm nên một bộ phận quân địch đã chạy thoát. Ta diệt và bắt hơn 1.000 tên địch.

Cuộc hành quân “Chen la-2”, điển hình của công thức quân đội Lon Non cộng hoả lực không quân Mỹ trong chương trình “Khơ-me hoá chiến tranh” bị thất bại hoàn toàn. Âm mưu chiếm đường số 6 để lập tuyến phòng vệ Phnôm Pênh, dùng đường số 6 để làm bàn đạp tiến công lấn chiếm vùng đông bắc Campuchia, chiếm vùng đồng bằng đông dân, nhiều của ở phía đông nam, cắt đường vận chuyển của ta... bị thất bại. Cùng với các đơn vị chủ lực Miền, quân và dân nước Bạn, Sư đoàn đã góp phần tiêu diệt một bộ phận chủ lực tinh nhuệ của quân Lon Non, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Đội quân ngụy Lon Non, “xương sống” trong chiến lược “Khơ-me hoá chiến tranh” của Mỹ bị một đòn tiêu diệt nặng. Kết luận Hội nghị tổng kết chiến dịch đường số 6, đồng chí Hoàng Văn Thái, Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam khen ngợi Sư đoàn 9 và các đơn vị tham gia chiến dịch “đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.

Sau chiến dịch, toàn bộ lực lượng Sư đoàn di chuyển về căn cứ để củng cố, bổ sung quân số, trang bị, tổ chức sơ kết chiến dịch, học tập chính trị và huấn luyện quân sự, chuẩn bị bước vào những đợt chiến đấu mới.

Vừa chiến đấu, vừa xây dựng và thực hiện chức năng đội quân công tác, đội quân sản xuất, trong năm 1971, Sư đoàn đã mở được hai lớp tập huấn, nâng cao trình độ chính trị, quân sự cho 243 cán bộ trung cấp, mỗi lớp học 23 ngày và hai lớp cho 151 cán bộ sơ cấp, mỗi lớp học 14 ngày. Các trung đoàn cũng mở được nhiều lớp tập huấn cán bộ từ tiểu đội đến tiểu đoàn. Các lớp huấn luyện tập trung được tổ chức sau chiến dịch mùa khô, chiến dịch đường 6 và xen kẽ giữa hai đợt chiến đấu, giữa hai trận đánh. Nội dung huấn luyện gắn với nhiệm vụ chiến đấu từng giai đoạn và dựa vào các tài liệu đã được tổng kết kịp thời sau các chiến dịch, các trận đánh. Sáu tháng đầu năm 1971, nội dung chủ yếu về huấn luyện quân sự của bộ đội là các hình thức chiến thuật vận động tập kích, vận động phục kích. Sáu tháng cuối năm 1971, các đơn vị chuyển sang huấn luyện chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt chặn và vây lấn. Ngoài chương trình chung, Sư đoàn còn mở nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng 904 lượt cán bộ tham mưu; 415 lượt cán bộ chính trị; 553 lượt cán bộ hậu cần.

Để bổ sung số tiêu hao trong chiến đấu và đào tạo cán bộ theo yêu cầu xây dựng quân đội, trong năm 1971, Sư đoàn đã cử 254 cán bộ đi học ở các trường của Miền, trong đó có 36 cán bộ học trường trung cao, 174 cán bộ học trường sơ cấp (gồm công binh, pháo binh, trinh sát, đặc công) và 71 cán bộ học các ngành hậu cần (có 48 cán bộ y sĩ, bác sĩ), Trường huấn luyện cán bộ trung đội của Sư đoàn mở được tám khoá, gồm sáu khoá bộ binh (có một khoá chính trị), một khoá pháo binh, một khoá đặc công. 482 cán bộ gồm 430 cán bộ bộ binh, 18 cán bộ pháo binh, 34 cán bộ đặc công đã ra trường trong năm 1971, được bổ sung về các đơn vị và cơ quan Sư đoàn, trung đoàn.

Nhiệm vụ chiến đấu căng thẳng, ác liệt, thường xuyên di chuyển theo yêu cầu nhiệm vụ, nhưng Sư đoàn và các trung đoàn đều có khu vực sản xuất, đến địa điểm đóng quân mới, là triển khai ngay công tác sản xuất. Năm 1971, tổng diện tích trồng cây của Sư đoàn lên tới 507 hécta và đã thu hoạch trên sáu tấn lúa, 300 tấn sắn, ngô, khoai lang, hàng chục tấn đậu xanh, lạc, 142.582 ki-lô-gam rau xanh các loại. Kết quả sản xuất không chỉ góp phần nuôi dưỡng và nâng cao sức khoẻ bộ đội mà còn “phục vụ đơn vị cơ động nhanh, có sức chiến đấu cao, bảo đảm được các hình thức chiến thuật”. Khi Sư đoàn di chuyển đến vị trí mới, các cơ sở sản xuất đều giao lại cho nhân dân địa phương.

Hoạt động trên chiến trường nước Bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả do Đảng và nhân dân giao phó, Đảng ủy Sư đoàn và các cấp đặc biệt chú trọng giáo dục nhiệm vụ, xây dựng đơn vị dân vận giỏi, thường xuyên kết hợp tác chiến với vận động binh lính địch... Khi vây lấn, bám địch, các đơn vị tổ chức viết truyền đơn, khẩu hiệu, thư tay, nhờ các quần chúng tốt đưa vào đồn, vận động sĩ quan, binh lính địch bỏ súng trở về với nhân dân. Khi đánh thắng địch ta băng bó cho những tên lính bị thương, giáo dục và thả tại trận. Khi bắt được bọn dân vệ, cảnh sát, liên gia trưởng... ta giáo dục rồi giao cho Bạn. Những việc làm đó đã có ảnh hưởng tốt trong sĩ quan và binh lính địch.

Để thực hiện tốt công tác dân vận, các đơn vị đều có đội tuyên truyền, các đội viên được học tiếng Khơ-me, học phong tục tập quán của nhân dân Bạn. Trong năm 1971, các đơn vị của Sư đoàn đã tham gia vận động quần chúng ở 13 huyện, 47 xã, 298 phum, sóc. Cũng như khi hoạt động ở chiến trường trong nước, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn tận tình giúp đỡ dân đào hầm chống phi pháo, thu hoạch lúa, khám chữa bệnh, chiếu phim, biểu diễn văn nghệ... góp phần củng cố vùng giải phóng của Bạn, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước. Đặc biệt, theo yêu cầu của Bạn, mỗi trung đoàn đã tổ chức, trang bị, huấn luyện một tiểu đoàn bộ đội tập trung của Bạn; huấn luyện nhiều đội vũ trang, bán vũ trang ở các phum, sóc trực tiếp góp phần phát triển lực lượng vũ trang cách mạng Bạn.

Đây là lần thứ hai, quân đội ta thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả trên đất nước Campuchia anh em. Nối tiếp truyền thống cao đẹp của bộ đội tình nguyện Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Sư đoàn 9 và các đơn vị bộ đội chủ lực Miền đã viết nên một trang sử mới về hoạt động của bộ đội tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, góp phần tăng cường liên minh chiến đấu, mối quan hệ đặc biệt giữa cách mạng ba nước Đông Dương.

Trong hai tháng 11 và 12 năm 1971, Bộ Tư lệnh Sư đoàn có thay đổi: đồng chí Nguyễn Văn Trọng về làm Phó Chính uỷ Sư đoàn; đồng chí Võ Văn Dần Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 được bổ nhiệm Phó Tư lệnh Sư đoàn thay đồng chí Đỗ Quang Hưng đi nhận nhiệm vụ mới.  

II. TRỞ VỀ CHIẾN TRƯỜNG CHÍNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ - SƯ  ĐOÀN VINH DỰ ĐỨNG TRONG ĐỘI HÌNH QUÂN ĐOÀN 4 (1972-1975)

1. Tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ, tiến công thị xã An Lộc (Bình Long) năm 1972

Bước sang năm 1972, cục diện chiến trường miền Nam và Đông Dương có những bước chuyển quan trọng. Bị thất bại nặng trong các cuộc hành quân ra Đường 9 - Nam Lào, đông bắc Campuchia, đường số 6... và trong kế hoạch bình định, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn buộc phải chuyển hẳn vào thế phòng ngự. Quân chiến đấu Mỹ vẫn phải rút khỏi chiến trường. Quân ngụy Sài Gòn vừa bị tổn thất lớn, lại phải dàn mỏng lực lượng để chiếm đóng, thay cho hơn 30 vạn quân Mỹ đã rút. Sau hai cuộc hành quân “Toàn thắng 1-71” và “Chen la 2”, Mỹ - ngụy buộc phải bỏ tuyến phòng thủ phía bắc đường biên giới, co lực lượng về giữa phía nam đường biên giới Việt Nam - Campuchia. Chúng ráo riết điều chỉnh thế bố trí lực lượng, thực hiện phòng thủ từ xa, lấy trục đường 22 làm hướng phòng ngự chủ yếu. Trên hướng đường 13, lực lượng địch chỉ có hai trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn biệt động quân biên phòng, một thiết đoàn xe tăng, thiết giáp.

Căn cứ vào thực tiễn chiến trường và nhận định chiều hướng phát triển của tình hình, tháng 5 năm 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp quyết định phát triển thế tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam, đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế thua. Trước mắt, mở những chiến dịch tiến công lớn của bộ đội chủ lực trên các hướng chiến lược quan trọng; đồng thời đẩy mạnh tiến công rộng khắp, kết hợp với quần chúng nổi dậy phá kế hoạch “bình định” của địch ở nông thôn, đồng bằng, thúc đẩy phong trào đấu tranh của quần chúng ở các đô thị, làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh ở miền Nam.

Tháng 6 năm 1971, Quân uỷ Trung ương thông qua kế hoạch tiến công chiến lược trong năm 1972 trên ba hướng chính là miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Trị Thiên. Đưa các khối chủ lực về chiến trường miền Nam, mở các chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng tương đối lớn, tiêu diệt một số chiến đoàn quân chủ lực ngụy, mở rộng vùng giải phóng, trực tiếp hỗ trợ lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh phá bình định.

Căn cứ vào chủ trương, kế hoạch tác chiến chiến lược của Bộ và hình thái bố trí lực lượng của địch trên chiến trường, ở miền Đông Nam Bộ, Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở “chiến dịch tiến công mang tên Nguyễn Huệ” trên hướng bắc Sài Gòn, tiến công địch từ biên giới đến tuyến trung gian, lấy đường 13 làm hướng chủ yếu. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, giải phóng một khu vực có ý nghĩa chiến lược, khôi phục và mở rộng địa bàn đứng chân của bộ đội chủ lực Miền, hỗ trợ phong trào đánh phá bình định ở nông thôn đồng bằng và phối hợp với các chiến dịch tiến công ở Trị Thiên và bắc Tây Nguyên. Cuối tháng 3 năm 1972, Bộ Tư lệnh chiến dịch được thành lập: Trung tướng Trần Văn Trà làm Tư lệnh, Thiếu tướng Trần Độ làm Chính uỷ, Đại tá Lê Ngọc Hiền làm Tham mưu trưởng, Đại tá Trần Văn Phác làm Phó Chính uỷ và Đại tá Bùi Phùng làm Chủ nhiệm hậu cần.

Cùng với các đơn vị bạn trong khối chủ lực Miền, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn lại khẩn trương chuẩn bị và lên đường đi chiến dịch. Sau hai năm chiến đấu trên chiến trường nước Bạn, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn lại trở về với miền Đông Nam Bộ “gian lao mà anh dũng”, một chiến trường mà mỗi con đường, cánh rừng... đều in dấu chân các chiến sĩ Sư đoàn từ những ngày đầu thành lập.

Trong quyết tâm của Bộ Tư lệnh chiến dịch, hướng chủ yếu các Sư đoàn 9, 7 và 5 đột phá tuyến phòng thủ của địch trên đường số 13, hướng thứ yếu một số trung đoàn chủ lực Miền được tổ chức thành một sư đoàn thiếu, phiên hiệu là Đoàn 30B do đồng chí Trương Văn Đàng chỉ huy tiến công nghi binh, thu hút địch trên đường số 22 và khu vực thị xã Tây Ninh.

Cách đánh của ta là dùng lực lượng nổ súng tiến công trên hướng thứ yếu khu vực Sa Mát, Thiện Ngôn để nghi binh thu hút, đánh lạc hướng địch, sau đó tập trung ưu thế bất ngờ tiến công cụm cứ điểm Lộc Ninh trên hướng chủ yếu và phát triển tiến công các thị xã phía nam, vừa đánh điểm, vừa diệt viện.

Nhiệm vụ của các đơn vị được giao như sau: Sư đoàn 5 (thiếu) được tăng cường Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9), tiến công trên hướng chủ yếu của chiến dịch, giải phóng thị trấn Lộc Ninh; Đoàn 30B tiến công trên hướng thứ yếu đường 22 có nhiệm vụ nổ súng trước nghi binh thu hút và kiềm chế địch, khi có thời cơ phát triển xuống phía nam; Sư đoàn 7 làm nhiệm vụ chốt chặn chiến dịch theo đường 13 xuống bắc Chơn Thành, tiêu diệt quân địch tháo chạy hoặc tăng viện; Trung đoàn 1 (Sư đoàn 9) đảm nhiệm hướng phối hợp, cùng vớiø Trung đoàn 1 (Sư đoàn 5) có nhiệm vụ tiến công quân địch ở các chốt điểm ngoại vi thị xã An Lộc, thu hút và án ngữ cho các đơn vị đánh chiếm mục tiêu chủ yếu; Sư đoàn 9 (thiếu) làm lực lượng dự bị chiến dịch sẵn sàng tiến công thị xã An Lộc.

Ngày 1 tháng 4 năm 1972, chiến dịch Nguyễn Huệ chính thức mở màn bằng đợt tiến công của đơn vị bạn vào cứ điểm Sa Mát, Bầu Bưng trên đường 22, đánh thiệt hại nặng chiến đoàn 49 ngụy, làm chủ một đoạn đường 22 từ bắc Thiện Ngôn đến biên giới. Ngày 5 tháng 4, trên hướng chủ yếu, Sư đoàn 5 do Sư đoàn trưởng Bùi Thanh Vân và Chính uỷ Nguyễn Văn Cúc chỉ huy được tăng cường Trung đoàn 3 Sư đoàn 9, một đại đội xe tăng và có pháo 122 phối hợp tiến công tiêu diệt chi khu quân sự Lộc Ninh. Gần chi khu quân sự Lộc Ninh có cụm cứ điểm Lộc Ninh do chiến đoàn 9 sư đoàn 5 ngụy, hai đại đội địa phương, hai đại đội 12 khẩu pháo 105, 155, sân bay và hệ thống tiếp liệu đóng giữ. Trước sức mạnh tiến công của ta, địch buộc phải điều tiểu đoàn 2 bộ binh từ căn cứ Hoa Lư (còn gọi là Thành Vinh), thiết đoàn 1 và tiểu đoàn biệt động quân 74 từ Lộc Tấn về cứu Lộc Ninh. Ngày 6 tháng 4, Trung đoàn 3 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Phạm Kim và Chính ủy Huỳnh Văn Gương được tăng cường Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 3 Sư đoàn 5 đã tổ chức trận vận động phục kích diệt quân địch từ Hoa Lư về ứng cứu Lộc Ninh. Kết quả trận đánh, Trung đoàn 3 đã tiêu diệt trung đoàn 1 thiết giáp (thiếu chi đoàn 2), tiểu đoàn 2 chiến đoàn 9, tiểu đoàn 74 biên phòng, một đại đội bảo an, một trung đội dân vệ. Diệt 460 tên, bắt 490 tên trong đó có tên trung tá Dương, trung đoàn trưởng trung đoàn thiết giáp, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 74 biên phòng, chi đoàn phó chi đoàn 1, chi đoàn trưởng chi đoàn 3... ta phóng thích 32 tên; thu 36 xe tăng thiết giáp, phá hủy 68 xe. Tổng cộng là 104 xe, trong đó có 63 xe tăng và xe bọc thép, thu 399 khẩu súng các loại, trong đó có 4 khẩu pháo, 57 máy thông tin. Phía ta: 15 đồng chí hy sinh, 41 đồng chí bị thương.

Trận tiêu diệt quân viện từ Hoa Lư về giải tỏa cho Lộc Ninh của Trung đoàn 3, đã tạo điều kiện cho Sư đoàn 5 tiến công vây hãm chi khu Lộc Ninh được thuận lợi để tiến tới bước quyết định giải phóng hoàn toàn thị trấn Lộc Ninh. Trận tiêu diệt trung đoàn 1 thiết giáp và hai tiểu đoàn bộ binh ngụy Sài Gòn của Trung đoàn 3 được đánh giá đặc biệt xuất sắc, vì đây là lần đầu tiên một trung đoàn bộ binh quân giải phóng vận động phục kích tiêu diệt một trung đoàn thiết giáp và hai tiểu đoàn bộ binh địch đạt hiệu xuất chiến đấu cao.

Chiến thắng Hoa Lư ngày 6 tháng 4 năm 1972 của Trung đoàn 3 đã được Trung ương Cục và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba và tặng danh hiệu “Đoàn Hoa Lư”.

Ngày 7 tháng 4, ta tiêu diệt hoàn toàn chiến đoàn 9 thuộc sư đoàn 5 ngụy, bắt sống tên đại tá chỉ huy trưởng Nguyễn Công Vĩnh, làm chủ hoàn toàn chi khu quân sự Lộc Ninh. Hệâ thống đồn bốt bảo an dân vệ trong khu vực tan rã. Chiến đoàn 52  thuộc sư đoàn 18 ngụy, bỏ căn cứ Đồng Tâm (phía nam Lộc Ninh) chạy về Bình Long bị Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) và một bộ phận Trung đoàn 2 phục kích ở cầu Cần Lê tiêu diệt gần hết.

Mất Lộc Ninh, Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn buộc phải tăng cường lực lượng cho thị xã An Lộc (còn gọi là Hớn Quản), chọn An Lộc “làm tuyến đầu chặn sức tiến công của Việt cộng”. Ngày 6 tháng 4, tên chuẩn tướng Lê Văn Hưng chỉ huy trưởng sư đoàn 5 ngụy và tên đại tá cố vấn Mỹ Oa-tơu-mơ vào thị xã chỉ huy việc tổ chức phòng thủ. Chúng huy động toàn bộ lực lượng trong thị xã gồm chiến đoàn 7 và liên đoàn biệt động 3, mở cuộc “hành quân chiến thắng 72C” giải toả áp lực của ta ở xung quanh thị xã. Đồng thời, sử dụng không quân (kể cả máy bay chiến lược B52) và pháo binh đánh sập cầu Cần Lê và đánh phá ác liệt các ngả đường dẫn đến thị xã, các vạt rừng xung quanh thị xã nhằm ngăn chặn lực lượng của ta. Lữ đoàn dù 1 từ Chơn Thành hành quân càn quét hai bên đường 13 lên hướng Bình Long. Ngày 11 tháng 4, địch dùng máy bay lên thẳng bốc chiến đoàn 8 ngụy từ Lai Khê lên An Lộc, đưa lực lượng phòng thủ thị xã An Lộc lên ba lữ đoàn tăng cường, gồm hai chiến đoàn 7 và 8, liên đoàn 3 biệt động quân và tàn quân của chiến đoàn 52.

Ngày 12 và 13 tháng 4, bộ tổng tham mưu ngụy quyết định điều sư đoàn 21 và một trung đoàn thiết giáp từ miền Tây Nam Bộ lên đường 13, giữ khu vực từ Lai Khê đến Bàu Bàng, nhằm bảo đảm phía sau cho lực lượng ở Bình Long.

Ngày 11 tháng 4, Bộ Tư lệnh Miền họp nhận định: “Do ta không tranh thủ được thời cơ lúc đầu nên địch đã tăng cường được lực lượng, tích cực phòng ngự, tăng cường hoạt động của máy bay B52, tình hình đã trở nên phức tạp và khác trước. Thị xã Bình Long trở nên khu quyết chiến. Phương châm bây giờ là đánh vững chắc nhưng phải khẩn trương”.     

Trước mắt, Bộ Tư lệnh Miền chủ trương đánh chiếm ngoại vi khu phía bắc thị xã An Lộc gồm các điểm cao khống chế và sân bay, kết hợp dùng pháo và đặc công phá hoại nội đô thị xã. Tiếp đó, phối hợp các hướng tiến công, đánh chiếm thị xã. Đồng thời, bố trí lực lượng chặn viện và đánh địch đổ bộ đường không trên đường 13.  

Từ ngày 9 đến 12 tháng 4, dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Sư đoàn Nguyễn Thới Bưng và Chính ủy Sư đoàn Phạm Xuân Tùng, Sư đoàn 9 được tăng cường Trung đoàn 1 (Sư đoàn 5), 1 trung đoàn pháo mang vác (thiếu), 1 tiểu đoàn xe tăng của Miền, triển khai đội hình bao vây thị xã An Lộc. Trung đoàn 1 diệt các đồn bảo an ở phía tây, đánh lui nhiều mũi hành quân sục sạo của chiến đoàn 7 ngụy. Trung đoàn 2 áp sát sân bay Téc Ních và khu vực đông bắc thị xã. Trung đoàn 3 triển khai lực lượng chuẩn bị đánh chiếm điểm cao 128. Các trận địa pháo phòng không 37 bố trí ở Phú Lỗ, tây bắc thị xã, Đoàn 75, pháo xe kéo tổ chức ba trận địa pháo tây bắc và đông bắc. Trung đoàn 1 (Sư đoàn 5) đứng ở Xa Trạch (nam thị xã) làm lực lượng dự bị.

Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn bước vào trận đánh với quyết tâm rất cao. Khẩu hiệu hành động do Đảng ủy Sư đoàn đề ra là: “Vượt qua gian khổ ác liệt như năm Mậu Thân 1968; táo bạo vững chắc như Bàu Bàng, Mỹ Hạnh; đánh nhanh diệt gọn như Dầu Tiếng, Căm Xe; kiên cường liên tục như Trà Phí, Đắc Sắc, thực hiện thật tốt Di chúc Bác Hồ”.   

Ngày 13 tháng 4 năm 1972, Sư đoàn nổ súng đánh vào thị xã An Lộc. Trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 2 phối hợp với Trung đoàn 3 từ hướng bắc đánh xuống. Hướng phối hợp, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 1 Sư đoàn 5 tiến công hướng tây và đông. Sau 15 phút bắn chế áp của các loại hoả lực, vào lúc 5 giờ 15 phút, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 được tăng cường Đại đội 6 xe tăng (9 xe T54) và hai khẩu cao xạ 57 mm, hai khẩu cối 120 mm, hai đại đội súng máy phòng không 12,8 mm (10 khẩu) bắt đầu tiến công, đánh chiếm sân bay Téc Ních. Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 3 được tăng cường một khẩu cối 120 mm, hai khẩu ĐKZ 75, một đại đội súng máy phòng không 12,8 mm (6 khẩu) đánh chiếm điểm cao 128 (ngoại ô thị xã An Lộc). Phát huy sức mạnh binh chủng hợp thành, đặc biệt là giữa bộ binh, xe tăng, pháo binh tiến công địch trong hành tiến, đánh nhanh, phát triển nhanh, hai Tiểu đoàn 5 và 9 đã nhanh chóng chiếm được mục tiêu, giành thắng lợi giòn giã cho trận then chốt mở đầu. Cùng ngày, các đơn vị khác của Sư đoàn đánh chiếm một số vị trí quan trọng ở ngoại ô thị xã như ấp Phú Lạc, ấp Sóc Bể, đồn bảo an (tây bắc thị xã); cầu Phú Hoà, ấp Sóc Gòn, Núi Gió (đông nam thị xã). Ấp Hưng Chiến (tây thị xã). Một số mũi đã vào đến đường Hùng Vương là một phần khu dân cư trong thị xã. Nhưng sau khi chiếm được sân bay, ta không đủ lực lượng để phát triển, thực hiện trận quyết chiến đánh chiếm hoàn toàn tiểu khu quân sự địch. Đại đội xe tăng bị hỏng 6 chiếc phải lùi ra để củng cố. Quân địch dựa vào đội hình thị xã nằm trên triền đồi cao, bao quanh có hệ thống hào rãnh sâu từ một đến ba mét và các công sự phòng thủ kiên cố; đồng thời phát huy hoả lực chống tăng và không quân chi viện để ngăn chặn ta. Đêm 13 và ngày 14 tháng 4, tranh thủ lúc lực lượng ta tạm ngừng tiến công, địch củng cố lại công sự, điều chỉnh thế bố trí thành từng cụm, nhiều tầng, có chính diện rộng, tung thâm sâu, nhiều chướng ngại và thiết bị khá vững chắc. Mặt khác, chúng tăng cường máy bay chiến lược B52, máy bay chiến thuật và pháo binh đánh phá ác liệt các vị trí bàn đạp tiến công của ta, Chúng chiếm lại điểm cao 128 và Núi Gió, đặt thêm trận địa pháo ở đây để chi viện hoả lực cho thị xã.

Nhận định tình hình sau trận then chốt mở đầu ngày 13 tháng 4, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn nhận thấy, trên tất cả các hướng, lực lượng ta đã áp sát các mục tiêu, tạo được bàn đạp tốt, quyết tâm chiến đấu của bộ đội rất cao, sức mạnh chiến đấu tăng thêm do được tăng cường hoả lực và binh khí kỹ thuật. Cán bộ, chiến sĩ bước đầu có kinh nghiệm đánh hiệp đồng binh chủng, đánh trong thị xã, đánh địch trong công sự vững chắc. Đây là nhân tố mới bảo đảm cho sư đoàn có thể phát triển tiến công, giành thắng lợi lớn hơn.

Ngày 15 tháng 4 năm 1972, Sư đoàn mở đợt tiến công mới với quyết tâm chiếm toàn bộ khu dân cư, phát triển sang khu tây, cô lập khu quân sự phía đông, thực hành vây ép và công kích mạnh khi có thời cơ, tiến tới dứt điểm thị xã. Từ 5 giờ bắt đầu nổ súng, đến 9 giờ, Tiểu đoàn 5 chủ công của Trung đoàn 2 dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Trần Ngọc Anh đã tiến vào đến bắc đường Trần Hưng Đạo, Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 3 theo hướng tây bắc đến vườn hoa Tao Phùng. Một bộ phận lực lượng của Trung đoàn 1 phát triển đến gần nhà lao thị xã. Nhưng cả ba mũi đều bị hoả lực không quân và hỏa khí chống tăng của địch đặt trên các nhà cao tầng chặn lại. Tuy nhiên, trước sức tiến công mạnh, dồn dập trên các hướng của bộ binh và xe tăng ta, quân địch trong thị xã bắt đấu rối loạn về tổ chức. Vào lúc 9 giờ 30 phút, hàng ngàn dân ở khu bắc thị xã chạy về phía nam. Nhiều binh lính địch cởi bỏ quân phục trà trộn vào trong dân, những tên còn mặc áo lính thì cầm cờ trắng, tìm cách thoát ra khỏi thị xã. Bộ Tư lệnh Sư đoàn báo cáo lên Bộ Tư lệnh chiến dịch và lệnh cho các đơn vị đẩy nhanh tốc độ tiến công. Nhưng một lần nữa địch dùng hỏa lực không quân và pháo binh đánh mạnh vào đội hình xung phong của ta. Lúc này chỉ huy Sư đoàn, trung đoàn không nắm được các tiểu đoàn do đường dây thông tin bị đứt. Bộ binh không bám được xe tăng,  pháo binh không phát huy được uy lực và hỏa lực chi viện cho bộ binh. Quân địch trong thị xã được hoả lực chi viện mạnh và dựa vào công sự để ngăn chặn và tổ chức phản kích, gây nhiều tổn thất cho ta. Trận đánh giằng co, diễn biến phức tạp, kéo dài đến chiều ngày 15 tháng 4.

Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn họp ngày 19 tháng 4 kiểm điểm hai đợt tiến công thị xã An Lộc đã chỉ rõ: “khuyết điểm chủ yếu vừa qua chưa thực hiện được trận quyết chiến trung tâm chiến dịch, đánh chưa gọn, số lượng diệt địch còn ít”. Nguyên nhân chính là “chưa quán triệt kỹ và đầy đủ nhiệm vụ trận đánh mà cấp trên giao cho sư đoàn, chưa bàn bạc kỹ để tạo nên sự nhất trí cao về quyết tâm, phương thức, thủ đoạn tác chiến và sử dụng lực lượng”.  

Những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1972, Sư đoàn tiếp tục duy trì áp lực xung quanh thị xã, thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh chiến dịch là “tiêu diệt quân địch bên ngoài để phá chỗ dựa của quân bên trong”. Các trận địa pháo của chiến dịch và của Sư đoàn liên tục bắn vào các mục tiêu quân sự làm cho quân địch trong thị xã vô cùng căng thẳng. Trong khi đó, trên đường 13, Sư đoàn 7 kiên cường chốt chặt, đẩy lùi cuộc hành quân giải tỏa của sư đoàn 21 ngụy ở bắc Chơn Thành, buộc chúng phải quay lại Bàu Bàng và Chơn Thành, cắt đứt đoạn đường 13 từ Chơn Thành lên thị xã An Lộc. Địch buộc phải đổ lữ đoàn dù 3 xuống bắc Tân Khai làm lực lượng xung kích phía trước cho sư đoàn 21. Từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 4, địch đổ lữ đoàn 1 và liên đoàn biệt động dù 81 xuống khu vực Núi Gió, triển khai lực lượng đánh vào phía sau ta, giải toả áp lực của xung quanh thị xã. Nhưng chúng đã bị một bộ phận lực lượng của Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7 vận động tiến công, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 6 và Ban chỉ huy lữ đoàn dù.

Chiến sự ở mặt trận Bình Long diễn biến sôi động. Riêng ở thị xã, một địa bàn rất hẹp chiều dài 2 ki-lô-mét, chiều ngang hơn 1 ki-lô-mét, lực lượng cố thủ của địch trong những ngày đầu tháng 5 năm 1972 đã lên tới 5 chiến đoàn tăng cường (tương đương hai sư đoàn), số quân trên 8.400 tên.        

Hoả lực không quân chi viện cho Bình Long gấp 5 lần so với những ngày giữa tháng 4. Ngày 11 tháng 5, Bộ Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam và bộ tổng tham mưu ngụy quyết định, dồn tất cả phi vụ B52 cho Bình Long - đường 13. Chúng quyết cố thủ thị xã và giải tỏa đường 13. Về phía ta, lực lượng Sư đoàn và các đơn vị tăng cường tiếp tục duy trì thế bao vây thị xã, nhưng chưa đủ mạnh để áp đảo quân địch. Quân số và trang bị của các đơn vị bị hao hụt qua một tháng chiến đấu. Trên đường 13, Sư đoàn 7 chặn được địch, nhưng chưa có trận tiêu diệt, tạo ra sự rúng động lớn. Lực lượng phòng không chưa đủ sức ngăn chặn địch cơ động bằng đường không để tăng viện cho Bình Long.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Miền chủ trương không tiếp tục tiến công mà chuyển sang bao vây, cô lập thị xã An Lộc, dùng lực lượng mạnh vận động tiến công địch ngoài công sự trên đường 13 với các trận đánh sôi động, diệt thật nhiều sinh lực địch để tạo thế phát triển chiến dịch tốt hơn; đồng thời chuyển một bộ phận lực lượng xuống hoạt động ở đồng bằng sông Cửu Long theo ý định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng.

Nhưng Bộ Tư lệnh chiến dịch cho rằng thị xã An Lộc đã bị ta bao vây, cô lập gần một tháng. Sư đoàn 5 và các đơn vị tăng cường của quân ngụy Sài Gòn bị thiệt hại nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, quân dù lên giải toả bị đánh đau, đường 13 vẫn bị ta chia cắt. Đợt tiến công ngày 13 và 15 tháng 4 không thành công không phải vì địch mạnh mà do ta đánh chưa tốt, hiệp đồng giữa bộ binh, xe tăng chưa chặt chẽ. Do đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tiến công thị xã An Lộc một lần nữa để dứt điểm. Lực lượng tiến công là lần này do Sư đoàn 9 đảm nhiệm, với toàn bộ hoả lực (56 khẩu pháo và súng máy phòng không), được tăng cường Trung đoàn 2 (Sư đoàn 5), 25 xe tăng, 36 khẩu pháo cối chiến dịch. Cách đánh là dùng sức mạnh binh chủng hợp thành, hình thành nhiều mũi đột kích mạnh và liên tục, chọc thẳng vào toà hành chính, đánh chiếm sở chỉ huy sư đoàn 5 ngụy, từ đó đánh giải toả ra các khu vực khác. Rút kinh nghiệm các đợt chiến đấu trong tháng 4, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn và các cấp đã mở hội nghị quân sự dân chủ, giải quyết những vướng mắc về nhận thức tư tưởng, xây dựng quyết tâm cao trước khi bước vào trận quyết chiến trung tâm chiến dịch. Đồng thời thảo luận rộng rãi và sâu sắc trên sa bàn, trên sơ đồ phương án tác chiến, bàn cách đánh địch trong công sự vững chắc, trong thị xã, vấn đề chỉ huy và hiệp đồng giữa bộ binh và xe tăng, yêu cầu bảo đảm đường và dẫn xe tăng từ vị trí tập kết đến mục tiêu... Tư lệnh Sư đoàn chỉ đạo các đơn vị tổ chức cho cán bộ đại đội đến trung đội và đại đội xe tăng phối hợp nghiên cứu từ ngoài vào đến cửa mở, hướng chủ yếu (phía tây) vào đến bờ đê thị xã. Sau đó thống nhất tại thực địa về đường, tuyến và mục tiêu tiến công cụ thể trong từng giai đoạn chiến đấu, phân công hai chiến sĩ trinh sát dẫn đường cho xe tăng. Riêng Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 2) và Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 3) được giao nhiệm vụ đi đầu trên hướng chủ yếu đã tổ chức cho cán bộ từ tiểu đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng, hợp luyện với xe tăng trong một ngày. Các đơn vị pháo binh khẩn trương sửa chữa xe, pháo chuẩn bị phần tử bắn, bắn kiểm tra phần tử vào từng mục tiêu... Các đơn vị công binh tổ chức khảo sát đường cơ động, đếm và đánh dấu từng hố bom, hố pháo, cầu cống hỏng, cây gãy đổ... tiến hành cắm lộ tiêu, bố trí trạm đón và điều chỉnh đường cơ động cho xe tăng. Các đơn vị bộ binh huấn luyện bổ sung động tác vượt bờ đê và rào, phối hợp chiến đấu với xe tăng trong tung thâm...

3 giờ sáng ngày 11 tháng 5 năm 1972, Tư lệnh Sư đoàn Nguyễn Thới Bưng lệnh cho các đơn vị mở đợt tiến công mới vào thị xã An Lộc. Hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 2), có ba xe tăng T54 dẫn đầu nhanh chóng vượt qua tiền duyên, theo đường Phan Bội Châu phát triển vào thị xã, đánh chiếm ty công chánh, diệt và bắt 167 tên địch. Đồng chí Trần Văn Tùng - Tiểu đội trưởng trinh sát ba lần vượt qua cửa mở dưới tầm hoả lực của bom pháo và súng bắn thẳng của địch, dẫn đường cho xe tăng. Tiểu đoàn 9 và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 3) vượt qua cửa mở thì xe tăng bị địch bắn hỏng. Cán bộ, chiến sĩ hai tiểu đoàn đã tổ chức lại đội hình, tiếp tục tiến công bằng lực lượng của bản thân, đánh chiếm nhà lao thị xã, giải phóng 36 người bị giam giữ. Đồng chí Nguyễn Duy Nạp bắn súng cối 60 ly diệt 31 tên địch, hai ổ súng đại liên, bắt 5 tên. Để bắn được chính xác, đồng chí đã ra ngoài công sự cưa hai cây cao su che khuất tầm bắn trong khi địch đang bắn trả ác liệt. Hướng thứ yếu, Trung đoàn 1 mở được một cửa, bộ binh vào đến bờ đê thị xã, nhưng không phát triển được vì bị hoả lực của địch ngăn chặn, chia cắt bộ binh với xe tăng. Sở chỉ huy Trung đoàn bị trúng bom B52, Trung đoàn trưởng Quách Mười và Chính uỷ Trần Văn Thiệt hy sinh. Nhưng trên hướng này, một xe tăng T54 đã thọc sâu, độc lập chiến đấu trong thị xã.

Sau nhiều lần đột phá, đến 10 giờ ngày 11 tháng 5, ta chiếm được ty công chánh, ty tuyển mộ, nhà lao, khu chợ cũ, ty cảnh sát và toà nhà phía bắc đường Trần Hưng Đạo. Quân địch trong thị xã được hỏa lực không quân chi viện chống trả quyết liệt, phá huỷ nhiều xe tăng của ta ở ngay cửa mở, chia cắt đội hình tiến công của ta.

Ngày 12 tháng 5, đồng chí Võ Văn Dần, Phó Tư lệnh Sư đoàn và cán bộ chỉ huy các trung đoàn vào thị xã nắm tình hình, tổ chức lại lực lượng để tiếp tục đột phá, nhưng vẫn không dứt điểm được vì quân số các đơn vị đều bị tiêu hao, 18 trong số 25 xe tăng bị phá hủy và hư hỏng nặng. Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 3) có ba đại đội, số quân đi chiến đấu là 105, bị thương vong 82 cán bộ, chiến sĩ. Các đơn vị khác cũng bị tổn thất nặng. Đêm 14 tháng 5, Sư đoàn chuyển sang vây hãm, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch trong thị xã, đồng thời cử Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 1) phối hợp với Sư đoàn 7 chốt chặn đánh quân địch lên giải tỏa đường 13. Trong trận tiến công vào thị xã An Lộc từ ngày 11 đến ngày 14 tháng 5 năm 1972, Sư đoàn đã diệt và làm bị thương 723 tên địch, bắt 180 tên, thu 193 khẩu súng, bắn rơi 6 máy bay.    

Lúc này, miền Đông Nam Bộ đang bước vào mùa mưa. Các công sự chiến đấu, hầm hào thường xuyên bị ngập nước. Trận địa vây lấn của các đơn vị nằm trong tầm pháo địch và từ khi ta nổ súng tiến công thị xã, liên tục bị máy bay địch ném bom, bắn phá. Đất đá tơi vụn, bị nước mưa trở thành bùn, gây trở ngại rất lớn cho việc cơ động lực lượng, tiếp tế cơm, nước ra trận địa, chuyển thương binh, tử sĩ về phía sau. Ở trận địa bộ đội ta chỉ hoạt động về đêm, ban ngày phải nằm hầm vì các công sự chiến đấu đều nằm trong tầm súng bắn thẳng của địch, hoặc liên tục bị máy bay A37 ném bom vào trận địa. Khu vực các trận địa không còn một cành lá, một lùm cây để ngụy trang. Phát hiện một tiếng động, một dấu hiệu của ta là địch bắn ra hàng chục quả cối 61mm, đạn M79. Có ngày chúng cho máy bay rải bột xăng rồi ném bom đốt cháy, nhiều súc vật chết xác thối rữa trên các khu vực trận địa. Cuộc sống trên chốt vây lấn căng thẳng, gian khổ, ác liệt. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã chịu đựng gian khổ, khắc phục rất nhiều khó khăn ác liệt, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng để đứng vững ở vị trí chiến đấu vây đánh quân địch.

Những tháng cuối năm 1972, với những thắng lợi về quân sự, chính trị và ngoại giao của ta, cục diện chiến tranh chuyển sang trạng thái mới. Cuối tháng 10 năm 1972, Hội nghị Pa-ri gần như đã đi tới thỏa thuận về một giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tuy Mỹ còn tham vọng lớn tính toán những hành động phiêu lưu quân sự mới, nhưng Mỹ và ngụy Sài Gòn cũng buộc phải tính đến những hành động tiếp theo trong trường hợp giải pháp chính trị trở thành hiện thực. Chúng ráo riết tăng cường vũ khí phương tiện cho quân nguỵ, hối thúc quân ngụy lấn chiếm các vùng ta đã giải phóng, nhất là các địa bàn có vị trí chiến lược.

Trước những âm mưu và hành động mới của địch, Bộ Tổng Tư lệnh đã kịp thời chỉ thị cho các chiến trường chuyển sang đánh địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng, phát triển thế tiến công cả về quân sự, chính trị trên chiến trường.

Nhiệm vụ của Sư đoàn lúc này là triển khai lực lượng trên tuyến đường 13 từ bắc Chơn Thành đến thị xã Bình Long, có nhiệm vụ đánh bại âm mưu giải toả đường 13 của địch, giữ vững vùng giải phóng Lộc Ninh. Trên đường 13, Sư đoàn 7 tổ chức trận địa chốt chặn từ Tân Khai qua Tàu Ô, Xóm Ruộng đến ngã tư Ngọc Lầu trên đoạn đường dài 12 ki-lô-mét. Trong tháng 8 năm 1972, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 phối hợp với Trung đoàn 209 Sư đoàn 7 liên tục đánh lui các đợt phản kích của sư đoàn 25 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, buộc chúng phải tháo chạy ra khỏi Tân Khai, Xóm Ruộng. Đường 13 từ Chơn Thành đến Bình Long tiếp tục bị ta chia cắt.

Ngày 19 tháng 1 năm 1973, chiến dịch Nguyễn Huệ kết thúc. Kết quả ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 13.000 tên địch (bắt 5.381 tên), thu 282 xe quân sự (có 12 xe tăng, xe bọc thép)ï, 45 khẩu pháo, hơn 6.000 súng các loại, bắn rơi và phá hủy 400 máy bay. Riêng Sư đoàn 9, có 1.179 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 4.494 đồng chí bị thương, trong đó trên 50 phần trăm là đảng viên, hơn 20 phần trăm là cán bộ từ trung đội đến trung đoàn.

Chiến dịch Nguyễn Huệ diễn ra liên tục trong gần 10 tháng, tuy ta không chiếm được thị xã An Lộc, mục tiêu trung tâm chiến lược trọng yếu đề ra, nhưng cũng đã giải phóng được một vùng rộng lớn trên hướng chiến lược xung yếu trực tiếp uy hiếp của ngõ Sài Gòn từ phía bắc - tây bắc, làm thay đổi cục diện chiến trường miền Đông Nam Bộ, giành lại quyền chủ động chiến lược, tạo địa bàn đứng chân cho bộ đội chủ lực, đẩy mạnh phong trào chiến tranh nhân dân phát triển, góp phần vào chiến thắng chung to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972.

Từ tác chiến độc lập, phổ biến quy mô trung đoàn, Sư đoàn đã tiến lên tác chiến tập trung cấp sư đoàn trong đội hình chiến dịch. Từ đánh vận động (tập kích, phục kích) là chính, sư đoàn đã đánh địch phòng ngự có chuẩn bị trong công sự vững chắc trong thị xã và thực hành chốt chặn chiến dịch. Từ đánh với lực lượng đơn thuần bộ binh, hỏa lực hạn chế, sư đoàn đã tác chiến bằng lực lượng binh chủng hợp thành, hợp đồng bộ binh với xe tăng, đặc công, pháo binh... thực hiện tiến công và chốt chặn trong chiến dịch dài ngày, chuyển từ tiến công sang chốt chặn, từ chốt chặn sang đánh lấn chiếm giữ vững vùng giải phóng... Đây là những mặt trưởng thành mới về chất lượng chiến đấu của Sư đoàn trong cuộc tiến công năm 1972, một năm chiến đấu gian khổ, ác liệt với biết bao hy sinh, tổn thất, trận đánh vào thị xã An Lộc “tuy chưa hoàn thành nhiệm vụ”, nhưng cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng quyết tâm chiến đấu, kiên quyết và tuyệt đối chấp hành nhiệm vụ, chiến đấu anh dũng, ngoan cường, vượt lên mọi gian khổ, hy sinh, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch Nguyễn Huệ, của cuộc tiến công chiến lược năm 1972; góp phần giành thắng lợi quân sự có ý nghĩa quyết định trên chiến trường, buộc đế quốc Mỹ phải ký hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Trong năm 1972 và đầu tháng 1 năm 1973, Bộ Tư lệnh Sư đoàn có thay đổi: tháng 10 năm 1972, đồng chí Phạm Xuân Tùng, Phó Chính ủy lên làm Chính ủy thay đồng chí Nguyễn Văn Quảng chuyển công tác về Quân ủy Miền; tháng 1 năm 1973, đồng chí Võ Văn Dần, Tư lệnh phó lên làm Tư lệnh Sư đoàn thay đồng chí Nguyễn Thới Bưng đi nhận công tác mới.

2. Đánh địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, chặn đứng âm mưu lấn đất, giành dân của ngụy quyền Sài Gòn sau Hiệp định Pa-ri

Hiệp định Pa-ri về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam” được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973. Theo hiệp định, đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt dính líu quân sự và can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam...

Trên chiến trường miền Nam, đội quân xâm lược và quân các nước chư hầu của Mỹ phải rút về nước. Các đơn vị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam giữ nguyên lực lượng và thế bố trí trên các địa bàn chiến lược. Đối với miền Bắc, đế quốc Mỹ phải chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân.

Việc ký kết hiệp định Pa-ri là thắng lợi to lớn của nhân dân ta, thất bại nặng nề của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Thế và lực ta ở miền Nam được giữ nguyên trong khi quân đội viễn chinh Mỹ và chư hầu phải rút hết. Quân và dân ta có thời cơ rất thuận lợi để “Đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Tuy phải ký kết Hiệp định Pa-ri và rút quân viễn chinh ra khỏi Việt Nam, nhưng đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ âm mưu duy trì chế độ thực dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài nước ta. Chúng duy trì một bộ phận quân Mỹ ở khu vực Đông Nam Á làm “lực lượng răn đe” tăng thêm viện trợ cho ngụy quyền Sài Gòn, đốc thúc quân ngụy và ngụy quyền phá Hiệp định Pa-ri ngay từ đầu có kế hoạch và có hệ thống.

Trong quá trình rút quân, Mỹ và các nước chư hầu đã giao lại cho quân ngụy những cơ sở vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh đã từng phục vụ cho đội quân Mỹ và quân chư hầu (trên 60 vạn tên) ở chiến trường miền Nam. Trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Mỹ gấp rút đưa thêm vào miền Nam 625 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và nhiều tàu chiến. Trong năm 1973, chúng liên tục viện trợ quân sự, trang bị bổ sung cho quân ngụy 124 khẩu pháo mặt đất và pháo cao xạ, 98 máy bay và nhiều phương tiện chiến tranh khác.

Dựa vào viện trợ Mỹ và dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Mỹ khoác áo dân sự, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ra sức đôn quân bắt lính, đưa số quân chính quy ngụy từ 65.000 năm 1972 lên 720.000 năm 1973, lực lượng phòng vệ dân sự có 799.000 tên. Các binh chủng pháo binh, thiết giáp, không quân được củng cố và phát triển. Lực lượng bảo an tổ chức tới cấp chiến đoàn, được tăng cường trang bị và khả năng chiến đấu.

Chúng gấp rút điều chỉnh thế bố trí chiến lược trên toàn chiến trường và bắt đầu thực hiện kế hoạch quân sự ba năm 1973-1975, nhằm mục tiêu đẩy lùi bộ đội chủ lực ta ra sát biên giới, xoá bỏ trạng thái “da beo” xen kẽ giữa vùng ta và vùng địch. Chúng huy động 60 phần trăm quân chủ lực và toàn bộ bảo an, dân vệ vào các cuộc hành quân gọi là “tràn ngập lãnh thổ” hòng đẩy lùi và giảm bớt sự uy hiếp của bộ đội chủ lực ta trên các địa bàn chiến lược. Chúng tiếp tục phá hoại Hiệp định Pa-ri có hệ thống.

Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ ta cương quyết đánh trả các cuộc hành quân lấn chiếm “tràn ngập lãnh thổ” của địch. Nhưng do một số nơi địch đông, lực lượng tại chỗ của ta ít nên từ đầu năm đến giữa năm 1973, địch đã chiếm ta 308 ấp gồm 29 vạn dân ở khu 6 và khu 7. Đáng kể là khu vực Tống Lê Chân chúng “tràn ngập lãnh thổ” lấn chiếm từ ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực. Sau này ta giải phóng trở lại khu vực Tống Lê Chân, mới biết chúng tuyên truyền rùm beng Việt cộng đã “vi phạm Hiệp định”.

Trước tình hình đó, một mặt Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ đạo các đơn vị duy trì trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, tiếp tục chiến đấu, kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của địch trên các khu vực được phân công, bảo vệ vùng giải phóng. Mặt khác, hết sức tận dụng thời gian, tranh thủ những thuận lợi mới ở chiến trường sau khi có Hiệp định Pa-ri và đội quân viễn chinh Mỹ đã rút (bom pháo địch ít hơn, B52 không còn) để khẩn trương và nỗ lực xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu theo phương hướng chính quy, hiện đại, bảo đảm cho Sư đoàn hoàn thành các nhiệm vụ trước mắt, sẵn sàng đáp ứng những nhiệm vụ mới trong giai đoạn cuối chiến tranh.

Cuối tháng 1 năm 1973, Trung đoàn 2 được giao nhiệm vụ hành quân về sân bay Lộc Ninh làm nhiệm vụ bảo vệ phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thực hiện việc trao đổi tù binh giữa hai bên theo Nghị định thư của Hiệp định Pa-ri. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, tháng 3 năm 1973, Trung đoàn 2 được tăng cường cho Quân khu 8, cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương đánh phá bình định, chống địch lấn chiếm ở khu vực Tân Châu, Hồng Ngự, trung đoàn đã tham gia một số trận đánh, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi hành động lấn chiếm của địch, tạo ra ảnh hưởng tốt trong nhân dân. Trong khi đó, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 3, vừa xây dựng, vừa phối hợp chiến đấu chống địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng trên địa bàn được phân công. Hai trung đoàn đã chủ động tiến công, diệt một số chốt địch nằm sâu trong vùng giải phóng của ta, thu hồi các vùng địch lấn chiếm ở khu vực Tống Lê Chân... Tiếp sau đó, Trung đoàn 1 tiếp tục nhận nhiệm vụ về hoạt động ở khu vực đường 7 ngang, tây Bến Cát và bắc Củ Chi, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị ở vùng sâu, phối hợp với chiến trường toàn Miền. Tại Củ Chi, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 đã tích cực hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương chống địch lấn chiếm vùng giải phóng, bảo vệ nhân dân thu hoạch, đánh bại âm mưu cướp lúa của dân. Đợt hoạt động kéo dài 25 ngày (từ 20 tháng 12 đến 15 tháng 1 năm 1974), đã góp phần chuyển thế phong trào đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh vũ trang của nhân dân Củ Chi, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương mở rộng địa bàn hoạt động. Trung đoàn 1 đã được cấp uỷ đảng địa phương khen “Có ý thức hỗ trợ địa phương về quân sự và chính trị tốt”.

Sau một thời gian hoạt động phân tán, tháng 6 năm 1973, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 hành quân về đội hình Sư đoàn đóng quân ở khu vực tỉnh Bình Long. Vừa củng cố tổ chức, vừa bổ sung quân số, trang bị, bồi dưỡng nâng cao sức khoẻ bộ đội, giải quyết chính sách và chăm sóc thương binh, bệnh binh, các đơn vị và cơ quan Sư đoàn vừa tranh thủ thời gian và giành một bộ phận lực lượng xây dựng doanh trại, củng cố nơi ăn, ở... Riêng Trung đoàn 1, vẫn tiếp tục hoạt động ở khu vực đường 7 ngang, tây Bến Cát và bắc Củ Chi.

Vận dụng kinh nghiệm vừa chiến đấu, vừa xây dựng trong những năm trước đây, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chủ trương, trên các khu vực được phân công, các đơn vị đứng tại chỗ vừa đánh địch lấn chiếm bảo vệ vùng giải phóng, vừa củng cố, huấn luyện theo chương trình, lấy kết quả huấn luyện phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu và lấy thực tế chiến đấu để kiểm tra và bổ sung nội dung huấn luyện.

Với phương hướng đúng, kế hoạch cụ thể và nỗ lực phấn đấu của tất cả các đơn vị, công tác huấn luyện cán bộ và huấn luyện phân đội của Sư đoàn đạt được những kết quả rõ rệt. Hơn 1.100 lượt cán bộ trung cấp, sơ cấp được huấn luyện ở các lớp do Sư đoàn, trung đoàn và các đơn vị binh chủng tổ chức.

Để đảm bảo chất lượng, sau mỗi lớp tập huấn đều có kiểm tra bắn đạn thật, kiểm tra lý thuyết và động tác chiến thuật. Kết quả huấn luyện đã thiết thực nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ, đồng thời là cơ sở để thống nhất trong toàn Sư đoàn các nội dung, chương trình, phương pháp huấn luyện, bảo đảm cho cán bộ các cấp có thể tự huấn luyện cho cán bộ cấp dưới và các phân đội.

Chương trình huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật cho các phân đội bộ binh và binh chủng theo kế hoạch Sư đoàn chia thành ba giai đoạn: giai đoạn một từ đầu năm 1973 đến tháng 4 năm 1974, huấn luyện cơ bản; giai đoạn thứ hai từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1974, huấn luyện bổ sung theo nhiệm vụ và phương án tác chiến; giai đoạn ba từ tháng 10 năm 1974 trở đi, huấn luyện củng cố chuẩn bị cho nhiệm vụ năm 1975. Về kỹ thuật, toàn Sư đoàn đã hoàn thành huấn luyện 10 môn kỹ thuật cơ bản, trong đó đặc biệt chú trọng huấn luyện thuần thục năm động tác tiềm nhập (dò gỡ mìn, chống, chui, luồn và cắt rào), cách đánh bộc phá liên kết và liên tục để mở cửa, kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, đào công sự. Kiểm tra khoa mục bắn súng ở 6 tiểu đoàn, 22 đại đội, 50 phần trăm cán bộ, chiến sĩ đạt loại khá giỏi. Về chiến thuật, các tiểu đoàn bộ binh huấn luyện và diễn tập ba hình thức chính là đánh địch trong công sự vững chắc (chi khu, quận lỵ), vận động tập kích và vận động tiến công kết hợp chốt bằng lực lượng và hoả lực của bản thân là chính, khi có điều kiện đánh địch bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, có hỏa lực chuẩn bị trong một thời gian nhất định... Kiểm tra cuối khoá huấn luyện, Trung đoàn 2 được xếp loại khá nhất về đánh địch trong công sự vững chắc, Trung đoàn 3 dẫn đầu về thành tích bắn súng bộ binh. Nhiều phân đội được xếp loại khá, giỏi về chiến thuật.

Cùng với huấn luyện quân sự, Sư đoàn đã tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị, học tập ý nghĩa thắng lợi và nhiệm vụ mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; học tập đạo đức và tác phong của Bác Hồ; bản chất, truyền thống Quân đội nhân dân, gương các đơn vị anh hùng trong Sư đoàn và toàn quân. Chỉ thị của Quân ủy Miền về “Một số vấn đề công tác chính trị trong đánh chi khu, quận lỵ… được quán triệt sâu sắc đến cán bộ, chiến sĩ. Chỉ thị nêu lên một số vấn đề cần tập trung lãnh đạo như xây dựng quyết tâm, quán triệt phương châm, phương thức, tư tưởng chỉ đạo tác chiến; giáo dục ý thức đoàn kết hiệp đồng; thực hiện tốt nhiệm vụ giành dân, giành quyền làm chủ nhân dân; kết hợp chặt chẽ công tác địch vận trong tác chiến...”. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn phát động phong trào thi đua “xây dựng đơn vị 6 tốt”: sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt; huấn luyện tốt; quản lý bộ đội tốt; kỷ luật tác phong tốt; sản xuất tiết kiệm tốt; đời sống vật chất và tinh thần tốt, đã được các đơn vị trong toàn Sư đoàn nhanh chóng triển khai và thực hiện đạt kết quả tốt.

Một số nội dung như điều lệnh, điều lệ, rèn luyện tư thế, tác phong của một quân đội chính quy cũng được đưa vào chương trình huấn luyện, giúp cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn khắc phục thói quen tuỳ tiện, giản đơn, nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng. Phong trào tăng gia sản xuất được đẩy mạnh. Nhiều đơn vị thực hiện được chỉ tiêu tự túc ba tháng lương thực, mỗi tháng thêm sáu ki-lô-gam rau xanh, hai ki-lô-gam thịt, cá cho mỗi cán bộ, chiến sĩ. Trên các khu vực đóng quân, đặc biệt là ba huyện Chơn Thành, Dầu Tiếng, Bến Cát, Sư đoàn đã tổ chức các đội công tác, phối hợp với cấp ủy đảng địa phương xây dựng cơ sở chính trị, phát triển bộ đội địa phương và du kích, tuyên truyền vận động quần chúng ở vùng mới giải phóng, vận động binh lính địch bỏ hàng ngũ trở về với gia đình... Các hoạt động này đã góp phần củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, tạo thế đứng vững chắc cho Sư đoàn ở vùng trung tuyến phía bắc, tây bắc Sài Gòn.

Về quân số và trang bị, nhờ có lực lượng tăng cường, kịp thời từ hậu phương miền Bắc trong năm 1973, các cơ quan, đơn vị của Sư đoàn đã được bổ sung, bù đắp số bị tiêu hao trong năm 1972. Quân số chiến đấu mỗi tiểu đoàn bộ binh từ 298 đến 344 cán bộ, chiến sĩ; đại đội từ 58 đến 86 cán bộ, chiến sĩ. Súng bộ binh và hoả lực được trang bị đủ theo biên chế. Đây là thời kỳ tương đối hoàn thiện về tổ chức biên chế, trang bị, thể hiện bước trưởng thành mới của Sư đoàn, góp phần tăng cường sức mạnh và khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Trong năm 1973, các đơn vị trong Sư đoàn đã tham gia đánh gần 1.000 trận, chủ yếu là đánh nhỏ, nhiều nhất là các trận đánh cấp phân đội bộ binh và đánh độc lập của pháo, cối, giáng trả các trận địa pháo địch khi chúng bắn vào vùng giải phóng của ta. Diệt và làm bị thương hơn 3.700 tên địch, đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn, 3 đại đội, 12 trung đội, phá huỷ 39 xe quân sự (có 26 xe tăng, xe bọc thép), bắn rơi và cháy 24 máy bay. Các hoạt động tác chiến nhỏ lẻ của Sư đoàn bước đầu đánh bại âm mưu bình định lấn chiếm của địch, đồng thời góp phần chuyển thế phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang của nhân dân, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang địa phương mở rộng vùng giải phóng.

Ngày 12 tháng 9 năm 1973, Trung đoàn 2 (Đoàn Đồng Xoài) vinh dự được Đảng, Quốc Hội, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Sau đó đến ngày 23 tháng 9 năm 1973, Lỡi! Nới kết khơng hợp thức.. Đây là chiến công, thành tích của biết bao thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu, hy sinh trong 10 năm gian khổ quyết liệt nhất của 2 trung đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Vinh dự và tự hào với phần thưởng cao quý, cán bộ, chiến sĩ hai Trung đoàn 2 và 3 quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ, lập thêm nhiều chiến công mới trong giai đoạn cuối chiến tranh.

Tháng 12 năm 1973, đồng chí Nguyễn Văn Trọng - Phó Chính ủy được giao quyền Chính uỷ thay đồng chí Phạm Xuân Tùng đi học.

3. Tiến công giải phóng đường 7 - tây Bến Cát góp phần mở rộng địa bàn phía bắc và tây bắc Sài Gòn (1974)

Bước sang năm 1974, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 10-1973) và Nghị quyết Quân ủy Trung ương (tháng 3 năm 1974), các hoạt động xây dựng lực lượng, củng cố và mở rộng thế trận, đánh địch lấn chiếm ở chiến trường ngày càng đẩy mạnh. Từ phản công đánh địch lấn chiếm, các đơn vị bắt đầu chuyển sang tiến công mở rộng vùng giải phóng, đẩy địch vào thế bị động đối phó, đồng thời tích cực tạo thế, tạo lực và rèn luyện bộ đội, chuẩn bị cho trận chiến đấu cuối cùng.

Nằm trong kế hoạch chung của Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền, Sư đoàn được giao nhiệm vụ tiến công tuyến phòng thủ cơ bản của địch trên một địa bàn có vị trí chiến lược là vùng trung tuyến phía bắc Sài Gòn (khu vực đường 7 ngang, tây Bến Cát và bắc Củ Chi) góp phần đánh bại kế hoạch bình định lấn chiếm của địch, mở rộng vùng giải phóng, giành dân. Đồng thời thu hút, kìm chân, một bộ phận quan trọng lực lượng chủ lực quân đoàn 3 ngụy, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị ở vùng sâu, phối hợp với các chiến trường toàn Miền.

Vùng tây Bến Cát là một mắt xích quan trọng trên tuyến phòng thủ cơ bản của quân ngụy ở vùng trung tuyến bắc Sài Gòn. Hệ thống phòng thủ của địch ở đây được xây dựng từ lâu, gồm nhiều công sự vững chắc, chướng ngại phức tạp. Phía đông bắc có căn cứ Lai Khê của sư đoàn 5, phía tây nam có căn cứ Đồng Dù của sư đoàn 25 ngụy. Ngoài ra, còn có nhiều căn cứ hoả lực pháo binh và không quân. Đường 7 ngang từ thị trấn Bến Cát đến Rạch Bắp có vị trí như một tuyến tiếp xúc giữa ta và địch. Phía bắc là vùng giải phóng liên hoàn của ta. Phía nam là vùng địch kiểm soát. Lực lượng địch ở đây có khoảng 800 tên. Tiểu đoàn bảo an 321 đóng ba đồn Rạch Bắp, Ri Nét, Kiến Điền và chốt cầu Bến Cát trên tuyến đường 7. Tiểu đoàn bảo an 323 đóng hai đồn và bốn chốt từ Phú Thứ đến cầu Ông Cộ.

Trong kế hoạch chiến dịch tiến công địch ở tây Bến Cát, Quân ủy, Bộ Tư lệnh Miền giao cho Sư đoàn đảm nhận hướng chủ yếu với nhiệm vụ tiêu diệt địch, giải phóng đường 7. Tiếp đó, phát triển tiến công giải phóng khu vực Phú Thứ đến cầu Ông Cộ và tổ chức chốt chặn, đánh địch phản kích giữ vững địa bàn mới giải phóng. Để bảo đảm cho hướng chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ, Bộ Tư lệnh Miền đã tăng cường cho Sư đoàn một đại đội xe tăng (9 chiếc), một đại đội đặc công nước, ba tiểu đoàn pháo (sáu khẩu 85, sáu khẩu 122, ba khẩu cối 120 và hai khẩu ĐKZ), hai tiểu đoàn pháo phòng không (chín khẩu 37 mm và tám khẩu 12,8 mm), hai cơ cấu B.72 và một tiểu đoàn công binh.

Đêm 15 rạng sáng ngày 16 tháng 5 năm 1974, Trung đoàn 2 do Trung đoàn trưởng Lê Tấn Cẩm chỉ huy phối hợp với Trung đoàn 3 do Trung đoàn trưởng Trần Văn Thử chỉ huy, có xe tăng dẫn đầu đồng loạt nổ súng tiến công các vị trí địch trên đường 7, sau các loạt bắn phá hoại của pháo binh và dùng bộc phá liên kết, ĐH10 để mở cửa, các mũi nhanh chóng đánh chiếm các đồn Rạch Bắp, Ri Nét, Kiến Điền và ấp chiến lược Kiến Điền. Trận đánh kết thúc, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 3 đã diệt và làm bị thương 481 tên địch, bắt 66 tên, thu 187 khẩu súng và nhiều đồ dùng quân sự. Đến chiều ngày 17 tháng 5, ta hoàn toàn làm chủ đoạn đường 7 từ Rạch Bắp đến Bến Cát dài 8 ki-lô-mét, giải phóng một khu vực rộng khoảng 80 ki-lô-mét vuông. Tuyến phòng thủ cơ bản trên vùng trung tuyến từ Đức Hoà qua đường 7 ngang đến Bố Lá, Cống Xanh cách Sài Gòn 40 ki-lô-mét về phía bắc, tây bắc bị phá vỡ một mảng lớn. Các căn cứ địch Lai Khê, Đồng Dù, đường chiến lược 13 và nhiều con đường khác bị ta uy hiếp mạnh.

Từ ngày 16 đến 18 tháng 5, địch lần lượt điều ba chiến đoàn 318, 322, 43 lên Bến Cát, cầu Ông Cộ và Phú Thứ, đồng thời tổ chức thêm bốn trận địa pháo (36 khẩu) chuẩn bị phản kích chiếm lại đường 7. Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh Sư đoàn chỉ đạo các đơn vị gấp rút xây dựng trận địa chốt ở Rạch Bắp, Ri Nét, điểm cao 25 trên tuyến đường 7, chuẩn bị đánh địch phản kích.

Lúc này, Trung đoàn 1 (thiếu Tiểu đoàn 3) đang hoạt động ở vùng bắc Tây Ninh, được lệnh trở về đội hình Sư đoàn cùng các đơn vị đánh địch phản kích. Trong những ngày hoạt động ở khu vực bắc Củ Chi, Trung đoàn 1 và các đơn vị tăng cường liên tục đánh địch phản kích ở bắc Đồng Dù, bao vây chốt Cây Đừng... từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 10 tháng 4 năm 1974, Trung đoàn 1 đã đánh 63 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch, phá huỷ 7 xe tăng, hai khẩu pháo 105, bắn rơi 8 máy bay.

Nhằm đánh bật lực lượng ta ra khỏi vùng trung tuyến, địch đã tập trung hoả lực không quân, pháo binh rất lớn trên một khu vực hẹp, có ngày bắn tới hai vạn viên đạn pháo, từ ngày 6 tháng 6 đến ngày 7 tháng 7, chúng bắn 170.000 quả đạn pháo, sử dụng 1.104 lần chiếc máy bay xuất kích ném bom các trận địa chốt chặn của ta. Quân đoàn 3 ngụy tổ chức nhiều đợt phản kích, sử dụng xe tăng, thiết giáp, đột phá trên chính diện, kết hợp với bộ binh đánh vào hai bên sườn các trận địa chốt của ta.

Cuộc chiến đấu ở vùng trung tuyến đường 7 ngang - tây Bến Cát kéo dài 135 ngày đêm vô cùng căng thẳng, ác liệt. Hệ thống hầm, hào, công sự của ta đều bị hư hại vì bom pháo địch. Hàng ngày, anh nuôi các đơn vị mang cơm ra chốt, có bữa phải mang về vì đồng đội trên chốt đều đã hy sinh. Có chốt bị địch chiếm, ta tổ chức đánh bật, chiếm lại. Có khu vực trận địa, địch chiếm được một phần, ta giữ phần còn lại, giành giật nhau quyết liệt. Tại điểm cao 25, nơi được gọi là “túi bom pháo”, các chiến sĩ Tiểu đoàn 1 rồi Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 1), đã ngoan cường chốt chặn dưới mưa bom, bão đạn, bẻ gãy nhiều đợt phản kích của xe tăng, bộ binh địch, giữ vững trận địa. Nhiều chiến sĩ mới lần đầu tiên ra trận đã lập công xuất sắc. Chiến sĩ thông tin Trần Hồng Quân Đại đội 20 (Trung đoàn 2), giữa lúc trận đánh phản kích diễn ra quyết liệt, phát hiện đường dây thông tin bị đứt, đã lao ra khỏi hầm, tìm được chỗ dây đứt. Nhưng vì dây đã quá căng không đủ để nối lại, trong khi yêu cầu chỉ huy trận đánh đang cấp thiết, Trần Hoàng Quân đã dùng hai tay giữ hai đầu dây, lấy thân mình nối thông đường liên lạc. Trong tư thế anh hùng đó, anh đã anh dũng hy sinh vì đạn pháo.

Các chiến sĩ Lê Đình Hùng, Nguyễn Văn Hùng thuộc Tiểu đoàn 8, Đỗ Phi Hùng thuộc Tiểu đoàn 9 Trung đoàn 3 ngày đầu tiên ra trận đã bắn cháy xe tăng M41 và xe bọc thép M113. Sau 135 ngày đêm chiến đấu chống địch phản kích trên vùng trung tuyến bắc Sài Gòn, 623 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn đã anh dũng hy sinh, 2.602 lượt đồng chí bị thương.

Từ đầu tháng 10 năm 1974, địch buộc phải bỏ ý định dùng lực lượng lớn, phản kích chiếm lại đường 7 ngang - tây Bến Cát. Chúng chuyển sang dùng lực lượng nhỏ, lấn dần từng khu vực. Theo chủ trương của Bộ Tư lệnh Miền, Tư lệnh Sư đoàn Võ Văn Dần lệnh cho Trung đoàn 2 sử dụng một lực lượng tiếp tục củng cố trận địa, tổ chức chốt chặn, còn lại toàn bộ lực lượng Sư đoàn rút ra để củng cố, chuẩn bị cho nhiệm vụ năm 1975. Chiến sự ở khu vực đường 7 ngang - tây Bến Cát còn tiếp diễn nhưng tạm thời lắng xuống.

4. Quân đoàn 4 ra đời, Sư đoàn 9 vinh dự đứng trong đội hình chiến đấu của Quân đoàn

Năm 1974, cục diện chiến trường có những thay đổi nhanh chóng, đòi hỏi quân và dân ta có những nỗ lực mới, đẩy mạnh cuộc tiến công lên quy mô những chiến dịch quyết chiến chiến lược, tiêu diệt và làm tan rã đội quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền các cấp, kết thúc chiến tranh. Vấn đề xây dựng các quân đoàn gồm nhiều đơn vị binh chủng hợp thành có khả năng cơ động cao, hoả lực mạnh, sức đột kích lớn, làm lực lượng xung kích và nòng cốt trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược trở thành một yêu cầu khách quan, một đòi hỏi trước mắt của chiến trường, phản ánh bước đi phù hợp với quy luật phát triển của quân đội ta.

Từ năm 1971, trong quân đội ta đã hình thành một số đơn vị cấp quân đoàn như Binh đoàn 70 trong chiến dịch đường 9 - Nam Lào, Đoàn 301 ở chiến trường B2. Sau khi có Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, Quân uỷ Trung ương đã xúc tiến việc chuẩn bị phương hướng tác chiến trong các năm 1973-1975, trong đó có dự án thành lập các quân đoàn chủ lực cơ động. Các đồng chí lãnh đạo các cơ quan bộ và một số đồng chí lãnh đạo chỉ huy chủ chốt của các chiến trường như đồng chí Trần Hữu Dực (Trị Thiên), Võ Chí Công, Chu Huy Mân (Khu 5), Nguyễn Văn Linh, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Trà, Trần Nam Trung, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Minh Đường (B2)... đã trực tiếp tham gia xây dựng các kế hoạch này. Tháng 10 năm 1973, Bộ Chính trị phê chuẩn việc thành lập các quân đoàn theo dự án của Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng.

Ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, từ đầu năm 1974, Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền giao cho các đồng chí Bùi Cát Vũ, Tạ Minh Khâm, Phó Tham mưu trưởng Miền, Nguyễn Huỳnh Ngân - Phó Chủ nhiệm hậu cần cùng các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần Miền, trên cơ sở cơ quan và các đơn vị của Đoàn 301, lập phương án tổ chức biên chế, dự thảo chức năng, nhiệm vụ của một quân đoàn chủ lực trên chiến trường.

Ngày 1 tháng 7 năm 1974, tại vùng căn cứ huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Long), Quân uỷ, Bộ Tư lệnh Miền họp, thông qua các phương án đã được chuẩn bị, Đồng chí Tạ Minh Khâm trình bày dự thảo tổ chức biên chế và trang bị. Đồng chí Bùi Cát Vũ trình bày dự thảo chức năng, nhiệm vụ của Quân đoàn. Theo phương án ban đầu, Quân đoàn gồm 3 Sư đoàn bộ binh 5, 7, 9 (mỗi sư đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo hỗn hợp) và 5 trung đoàn binh chủng: Trung đoàn pháo cơ giới 24, Trung đoàn phòng không 71, Trung đoàn công binh 25, Trung đoàn đặc công 429, Trung đoàn thông tin 69. Cơ quan Quân đoàn gồm: Cục Tham Mưu (7 phòng và 7 đơn vị trực thuộc), Cục chính trị (9 phòng và 6 đơn vị trực thuộc), Cục hậu cần (8 phòng và 10 đơn vị trực thuộc). Tổng số quân là 35.112 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 6.285 cán bộ, 24.862 chiến sĩ chiến đấu, 3.968 cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ. Về vũ khí có 21.385 khẩu súng bộ binh (từ súng ngắn đến đại liên): 1.033 khẩu chống tăng B40, B41; 227 khẩu pháo và súng máy phòng không (các loại 37, 57 và 12,8); 228 khẩu súng cối (từ 60 đến 160 mm); 90 khẩu ĐKZ82; 33 khẩu H12; 36 khẩu pháo cơ giới (85 và 122mm). Về phương tiện chiến đấu có 223 ô tô vận tải, 56 ô tô kéo pháo, 17 xe công trình, 10 ô tô con, 94 mô tô, 1.366 xe đạp...

Với chức năng là quả đấm chủ lực mạnh, lực lượng cơ động mạnh của Bộ ở chiến trường B2, nhiệm vụ của Quân đoàn là tiêu diệt lớn quân địch, giải phóng nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang 3 thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng, đảm nhận một hướng chiến lược, một khu vực chiến trường, mục tiêu cuối cùng là giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

Được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phê chuẩn, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền đã chỉ định Bộ Tư lệnh Quân đoàn gồm 5 đồng chí: Thiếu tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh; Đại tá Bùi Cát Vũ, Phó Tư lệnh, Thượng tá Nguyễn Huỳnh Ngân, Phó Tư lệnh kiêm Chủ nhiệm Hậu cần, Thượng tá Hoàng Nghĩa Khánh, Tham mưu trưởng; Thượng tá Lê Thanh, Chủ nhiệm chính trị. Đây là những cán bộ trưởng thành qua chiến đấu từ thời kỳ chống Pháp, nhiều năm lặn lội với chiến trường B2, có kinh nghiệm tổ chức, chỉ huy và tác chiến tập trung, hiệp đồng binh chủng.

Trung trướng Trần Văn Trà, Tư lệnh Miền đã thông qua các phương án về tổ chức, nhiệm vụ và chỉ thị nhiệm vụ trước mắt cho Quân đoàn.

Ngày 4 tháng 7 năm 1974, Bộ Tư lệnh Quân đoàn, Cục Tham mưu, Cục Chính trị chuyển đến vị trí mới, thiết lập sở chỉ huy ở nam Suối Bà Chiêm. Cục Hậu cần xây dựng căn cứ ở suối Đông. Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị bước vào học tập, xác định vị trí nhiệm vụ của Quân đoàn.

Ngày 20 tháng 7 năm 1974, Đồng chí Phạm Hùng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục chính thức công bố quyết định thành lập Quân đoàn 4.

Trong một căn nhà lợp lá trung quân bên bờ suối Bà Chiêm (nay là xã Tân Thành, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh) các cán bộ lãnh đạo chỉ huy chiến trường, những người đã có công tổ chức ra các đơn vị chủ lực đầu tiên, đã trực tiếp chỉ huy nhiều đơn vị, đã theo dõi từng bước trưởng thành của khối chủ lực Miền lại có dịp ngồi bên nhau, chứng kiến giây phút trang nghiêm xúc động của buổi lễ thành lập Quân đoàn. Các đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Quân uỷ Miền, Trần Văn Trà, Tư lệnh, Lê Văn Tưởng, Phó chính ủy, Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà), Tham mưu trưởng, Trần Văn Phác (Tám Trần), Cục trưởng Cục Chính trị, Bùi Phùng, Cục trưởng Cục Hậu cần Miền... đã có mặt trong buổi giao nhiệm vụ, giải quyết tại chỗ những vấn đề còn vướng mắc để Quân đoàn nhanh chóng ổn định tổ chức bước vào chiến đấu, phát huy truyền thống vẻ vang của Đoàn 301 và khối chủ lực Miền, của nhân dân Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân đoàn; các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy đơn vị: Võ Văn Dần và Phạm Xuân Tùng (Sư đoàn 9), Lê Nam Phong và Phan Liêm (Sư đoàn 7), Bùi Thanh Vân (Úùt Liêm) và Nguyễn Văn Cúc (Sư đoàn 5), Hai Phong (đặc công), Nam Lê (pháo binh), Xuyên Khung và Bảy Triết (công binh), Tư Hải (thiết giáp)... Đã nêu lên nhiều vấn đề cụ thể về phương hướng xây dựng, chiến đấu của Quân đoàn và bày tỏ niềm tự hào được đứng trong đội hình chiến đấu của Quân đoàn 4. Mọi người nhắc lại những kỷ niệm sâu sắc về buổi đầu thành lập Q761, về những ngày gian khổ trong rừng sâu Chiến khu Đ, về những năm tháng đánh Mỹ... Biết bao đồng đội đã ngã xuống, biết bao câu chuyện cảm động về tình nghĩa quân dân, kỷ niệm về những trận thắng, trận thua, những niềm vui và những mất mát, những khó khăn như không thể vượt qua được để cho Quân đoàn 4 ra đời ngày nay. Ước mong mấy chục năm qua của nhiều đồng chí lãnh đạo, nhiều cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về xây dựng một đơn vị chủ lực cơ động gồm nhiều đơn vị binh chủng hợp thành đã thành hiện thực trên chiến trường Nam Bộ. Với việc ra đời của Quân đoàn 4, Quân đội ta có thêm một quả đấm chủ lực mạnh đứng ở địa bàn chiến lược ngay sát cửa ngõ Sài Gòn. Thế và lực trên chiến trường nói chung và B2 nói riêng mạnh lên. Quân và dân ta có thêm lực lượng mới, sức mạnh mới, có khả năng mở những chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng qui mô lớn, kết thúc chiến tranh.

Cũng như các đơn vị Sư đoàn bộ binh 7, Trung đoàn pháo binh 24, Trung đoàn pháo phòng không 71, Trung đoàn công binh 25, Trung đoàn đặc công 429, Trung đoàn thông tin 69 và các cơ quan, đơn vị trực thuộc khác, Sư đoàn bộ binh 9 vinh dự được đứng trong đội hình Quân đoàn 4. Đây là những đơn vị nhiều năm gắn bó với Sư đoàn trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, cùng phối hợp với Sư đoàn trong nhiều chiến dịch, nhiều trận chiến đấu và từ đầu năm 1971 cùng chiến đấu trong đội hình Đoàn 301.

Tuy mới thành lập, nhưng Quân đoàn có một cơ cấu tổ chức mạnh. Các sư đoàn bộ binh và trung đoàn binh chủng đều là những đơn vị được xây dựng, trưởng thành ở chiến trường, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu. Riêng ở Sư đoàn 9 gần 60 phần trăm quân số là đảng viên. Cán bộ, chiến sĩ được rèn luyện, luôn luôn đoàn kết gắn bó cùng nhau vượt qua khó khăn gian khổ trong chiến đấu ác liệt. Quan hệ quân dân, tình đoàn kết quốc tế được gìn giữ và phát huy tốt. Được vinh dự đứng trong đội hình Quân đoàn, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn quyết tâm phát huy truyền thống vẻ vang “Đoàn kết, khiêm tốn, anh dũng, sáng tạo, đi là chiến thắng, đánh là diệt gọn, sống anh dũng, chết vinh quang”, để cùng với các đơn vị bạn xây dựng Quân đoàn vững mạnh, thực hiện chức năng là quả đấm chủ lực mạnh, lực lượng cơ động của Bộ ở chiến trường B2.

Đúng vào ngày Quân đoàn 4 thành lập (ngày 20 tháng 7 năm 1974), Trung đoàn pháo binh 42 trực thuộc Đoàn 75 trong khối chủ lực Pháo binh Miền chính thức được biên chế về đội hình Sư đoàn 9.

Trung đoàn pháo binh 42 được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1971, tại khu rừng đông bắc huyện Lộc Ninh. Ban Chỉ huy trung đoàn khi thành lập gồm các đồng chí: Nguyễn Trâm, Trung đoàn trưởng; Lương Văn Chi, Chính ủy; Phạm Qưới, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng. Biên chế của trung đoàn khi thành lập gồm: Tiểu đoàn 4 Pháo 105 mm và 155 mm (pháo chiến lợi phẩm, được thành lập tại chỗ); Tiểu đoàn 34 Pháo Canon 85 mm (từ miền Bắc vào cuối năm 1970); Tiểu đoàn 9 Pháo 122 mm (từ miền Bắc vào giữa năm 1971); Đại đội 60 cối 160 mm (từ miền Bắc hành quân vào); Cuối năm 1973, Bộ Tư lệnh Miền biên chế tiếp cho Trung đoàn 42 Tiểu đoàn 12 pháo 130 mm (hành quân từ miền Bắc vào). Trong quá trình chiến đấu sau này, trung đoàn được phát triển thêm Tiểu đoàn 4B gồm pháo 105 và 155 mm. Cơ quan trung đoàn có đầy đủ các ban Tham mưu, Chính trị và Hậu cần - Kỹ thuật. Phần lớn cán bộ chủ chốt của trung đoàn được cấp trên điều động về là những sĩ quan Pháo binh được đào tạo chính quy từ miền Bắc, thành thạo sử dụng pháo xe kéo và đã có mặt tại chiến trường miền Đông Nam Bộ nhiều năm.

Từ khi thành lập cho đến khi biên chế về đội hình Sư đoàn 9, Trung đoàn pháo binh 42 đã tham gia chiến đấu trong nhiều chiến dịch và trận đánh lớn góp phần vào chiến công chung của toàn Miền. Một số trận đánh tiêu biểu của trung đoàn như: Ngày 5 tháng 4 năm 1972, trung đoàn làm nhiệm vụ chi viện pháo binh cho Sư đoàn bộ binh 5, Trung đoàn 3 (Sư đoàn 9) phối hợp cùng đại đội xe tăng tiến công tiêu diệt chi khu quân sự Lộc Ninh, diệt chiến đoàn 9 (sư đoàn 5 ngụy) và trung đoàn thiết giáp số 1. Sau đó các trận địa pháo của trung đoàn tiếp tục chi viện cho Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) phối hợp với Trung đoàn 2 (Sư đoàn 9) diệt một bộ phận chiến đoàn 52 (sư đoàn 18 ngụy) ở Đồng Tâm. Huyện Lộc Ninh được giải phóng. Đây là một trận đánh xuất sắc, đánh dấu bước tiến bộ mới của bộ đội chủ lực Miền về trình độ vận dụng chiến thuật vây, lấn, tấn, diệt bằng lực lượng binh chủng hợp thành, tiêu diệt chiến đoàn địch trong công sự vững chắc. Đối với Trung đoàn pháo binh 42, được Bộ Tư lệnh Miền đánh giá đã thực hiện bắn đúng bài bản, nắm vững mục tiêu, bắn có quan sát, sửa bắn kịp thời đạt hiệu suất cao, được Bộ Chỉ huy chiến dịch tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, được Bộ Tư lệnh Pháo binh Miền tặng Bằng khen trung đoàn bắn giỏi.

Ngày 14 tháng 4 năm 1972, trung đoàn được giao nhiệm vụ chi viện pháo binh cho Sư đoàn 5 tiến công tiêu diệt lữ đoàn 1 dù ngụy ở Núi Gió. Bằng các loại pháo 105mm, 155mm, 85mm và 122mm bắn cấp tập chính xác vào các mục tiêu, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong tiến công tiêu diệt các đợt phản công của địch. Trong trận này, pháo binh của trung đoàn đã bắn chính xác vào đội hình địch, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn 6, ban chỉ huy lữ đoàn 1 dù và trận địa pháo của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ, Trung đoàn pháo binh 42 đã tham gia hàng trăm trận lớn, nhỏ. Tiêu diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy 100 khẩu pháo, 120 xe quân sự, 260 máy bay, trên 100 kho xăng dầu, đạn dược, cùng các đơn vị bạn thu 24 khẩu pháo 105mm và 155mm, 4.000 viên đạn pháo, 25 xe quân sự, 16 máy thông tin, hơn 2.000 súng bộ binh. Đặc biệt, lần đầu tiên pháo của Trung đoàn 42 đã đánh một trận thời cơ có một không hai trong lịch sử Pháo binh Việt nam, bắn cấp tập 63 quả đạn pháo vào đội hình địch tại ngã ba Hồng Tâm, buộc chúng phải bỏ chạy, để lại toàn bộ xe pháo, phương tiện, trang bị vũ khí đạn dược… tạo điều kiện cho bộ binh đón lõng tiêu diệt gọn cả 1 chiến đoàn 52 địch.

Từ cuối năm 1973 đến đầu tháng 7 năm 1974, trung đoàn thường xuyên được giao nhiệm vụ chi viện cho Sư đoàn 9 đánh địch trên đường 7 ngang - tây Bến Cát; chi viện cho Sư đoàn 7 chốt chặn ở Tàu Ô, Xóm Ruộng cắt đứt tuyến đường 13 từ Chơn Thành đi Bình Long; chi viện cho Sư đoàn 5 đánh địch trên tuyến quốc lộ 22 từ Tây Ninh đi Thiện Ngôn, Xa Mát, góp phần cùng các đơn vị bạn gây cho địch nhiều thiệt hại. Nổi bật trong chiến dịch đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng trên đường 7 ngang từ Bến Cát đi Ri Nét, lần đầu tiên trung đoàn dùng pháo 85mm bắn thẳng trực tiếp bắn cháy 11 xe tăng và xe bọc thép của địch. Trong đó nổi lên nhiều gương chiến đấu dũng cảm như: Khẩu đội trưởng Nguyễn Mạnh Tuấn; Nguyễn Công Quyền; các pháo thủ Nguyễn Quốc Huấn, Nguyễn Thanh Tùng… đã chiến đấu mưu trí, ngoan cường tiêu diệt nhiều tên địch, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép của địch.

Việc thành lập Trung đoàn pháo binh 42 vừa đáp ứng yêu cầu đánh lớn trên chiến trường, vừa góp phần vào thắng lợi chung của Đoàn 301.

Ban Chỉ huy Trung đoàn pháo binh 42 khi biên chế về đội hình Sư đoàn 9 gồm các đồng chí: Phạm Qưới, Trung đoàn trưởng; Lương Văn Chi, Chính ủy; Tô Bon, Nguyễn Đức Nho, Trung đoàn phó; Nguyễn Văn Chung và Lâm Quang Trung, Phó Chính ủy. Biên chế tổ chức gồm 3 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần - Kỹ thuật. Các đơn vị gồm: Tiểu đoàn 4 pháo xe kéo (105mm và 85mm); Tiểu đoàn 20 pháo cao xạ 37mm; Tiểu đoàn 22 pháo mang vác (cối 120mm); Tiểu đoàn 24 pháo phòng không 12,8mm. (Tiểu đoàn 20 và 24 là hai tiểu đoàn trực thuộc của Sư đoàn được biên chế vào Trung đoàn pháo binh 42).

Như vậy, kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1974, ngoài 3 Trung đoàn bộ binh 1, 2, 3, trong đội hình Sư đoàn còn có Trung đoàn pháo binh 42. Các đơn vị bộ binh và binh chủng sẽ tạo thành sức mạnh tổng hợp để Sư đoàn góp phần cùng các đơn vị bạn trong Quân đoàn bước vào các chiến dịch, trận đánh lớn trong năm 1975, thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Sau chiến dịch đường 7 - tây Bến Cát, đầu tháng 10 năm 1974, Sư đoàn được lệnh rút toàn bộ lực lượng về khu vực tây đường 13 để củng cố, chuẩn bị tham gia chiến dịch Xuân Hè năm 1975. Để khắc phục các mặt thiếu sót, khuyết điểm trong chiến đấu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn tập trung chỉ đạo các đơn vị củng cố tổ chức, bổ sung quân số, trang bị và huấn luyện quân sự, trong đó chú trọng việc huấn luyện diễn tập đánh địch phòng thủ trong chi khu, tiểu khu bằng lực lượng hiện có và được tăng cường, vận động tiến công kết hợp chốt giữ vùng giải phóng...

Ngày 14 tháng 12 năm 1974, khi Quân đoàn nổ súng tiến công đường 14 - Phước Long thì Sư đoàn tiếp tục đảm nhiệm hướng phối hợp, hoạt động ở khu vực đường 7 - tây Bến Cát và đường 16, góp phần duy trì thế căng kéo địch trên chiến trường, thu hút, kìm chân lực lượng chủ lực cơ động của quân đoàn 3 ngụy, không cho chúng đưa lực lượng đi ứng cứu, tạo điều kiện cho hướng chủ yếu, nhanh chóng tiêu diệt quân địch giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.